CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH NGHỀ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH 1.1 Một số khái niệm về hành nghề và sử dụng chứng chỉ hành nghề của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Trong hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế để xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể là hành vi vi phạm quy định về hành nghề và sử dụng chứng chỉ hành nghề của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trước hết cần phải hiểu một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản sau: Một là, hành nghề của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Tại Khoản 6 Điều 2 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 20094 quy định “Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh. Thông thường, mọi người hiểu rằng người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là bác sĩ.
Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 102/2011/NĐ-CP về Bảo hiểm trách nhiệm trong khám, chữa bệnh5 như sau: “Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh” là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh gồm: bác sĩ, y sĩ; điều dưỡng viên; hộ sinh viên; kỹ thuật viên; lương y; người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền. Trong đó, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là lương y; người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền được hiểu như sau: Lương y là người có hiểu biết về lý luận y dược học cổ truyền, có kinh nghiệm khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp y dược học cổ truyền có dùng thuốc hoặc không dùng thuốc được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y trung ương hoặc Hội đông y cấp tỉnh6. Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền là người sở hữu bài thuốc hoặc phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm lâu đời do dòng tộc, gia đình truyền 4 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40, ngày 23 tháng 11 năm 2009. 5 Nghị định số 102 của Chính phủ về Bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh, ngày 14 tháng 11 năm 2011.
6 Khoản 8 Điều 2 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009. 7 lại, điều trị có hiệu quả đối với một hoặc vài bệnh, chứng nhất định được Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y cấp tỉnh7. Hai là, chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 của Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định: Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề. Trong đó, theo quy định tại Điều 42 của Nghị định số 109/2016/NĐ-CP quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề gồm Bộ trưởng Bộ Y tế và Giám đốc Sở Y tế.
Cá nhân khi có đủ các điều kiện như sau: có văn bằng, giấy chứng nhận phù hợp với hình thức hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; có văn bản xác nhận quá trình thực hành của người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh; giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; không thuộc trường hợp đang trong thời gian bị cấm hành nghề, cấm làm công việc liên quan đến chuyên môn y, dược theo bản án, quyết định của Tòa án; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự, quyết định hình sự của tòa án hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên có liên quan đến chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh; mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính về hành nghề và sử dụng chứng chỉ hành nghề của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh 1. Khái niệm vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật hiện nay khá phổ biến, xảy ra hàng ngày trong đời sống xã hội. Với tính chất phổ biến đó, mặc dù mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính cũng gây ra nhiều thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích chung của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nếu như không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
Việc nghiên cứu khái niệm vi phạm hành chính có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn bởi vì định nghĩa đúng về vi phạm hành chính là cơ sở để xác định các hành vi vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Xác định được vi phạm hành chính thì mới bảo đảm được tính chính xác và tránh được sự tùy tiện trong việc 7 Khoản 9 Điều 2 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009. 8 xử phạt vi phạm hành chính; đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân; phát huy hiệu quả và mục đích của xử phạt vi phạm hành chính trong việc lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm, cảnh cáo và phòng ngừa vi phạm xảy ra trong tương lai8. Về mặt lý luận, khái niệm vi phạm hành chính là căn cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật nào là vi phạm hành chính, giúp phân biệt hành vi đó với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Dựa vào khái niệm vi phạm hành chính, có thể xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi vi phạm pháp luật, tạo cơ sở để quy định việc xử lý cũng như đấu tranh một cách hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Trên thực tế, dựa vào các dấu hiệu nêu trong khái niệm, người dân ít nhất cũng có thể tự đối chiếu để đánh giá hoặc điều chỉnh hành vi của mình, hoặc có thể tự bảo vệ mình trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý không đúng đối với hành vi vi phạm của mình. Về phía các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, khi giải quyết các vụ việc cụ thể, có thể dễ dàng chỉ rõ và giải thích cho đối tượng vi phạm biết hành vi nào của họ là hành vi vi phạm hành chính và bị xử lý ra sao9. Khái niệm vi phạm hành chính đầu tiên được đề cập trong Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989.
Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Tuy nhiên, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 lại không đưa ra định nghĩa trực tiếp về vi phạm hành chính mà chỉ quy định gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt vi phạm hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc về quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”10. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007, 2008) tiếp tục kế thừa cách định nghĩa về vi phạm hành chính của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, tại Khoản 2 Điều 1 quy định: “Xử phạt vi 8 Nguyễn Thị Ngọc Bích, Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 9 Tống Thị Hoài Phương, Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr.
10 Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995. 9 phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Ngày 20/6/2012, Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua, trong đó đã quy định cụ thể hơn về khái niệm vi phạm hành chính: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”11. Từ các khái niệm nêu trên, vi phạm hành chính có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tính có lỗi của vi phạm hành chính.
Lỗi là trạng thái nhận thức và tâm lý của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm. Lỗi là yếu tố bắt buộc trong cấu thành vi phạm hành chính. Chỉ có thể coi là vi phạm hành chính khi chủ thể nhận thức được hành vi của mình và thực hiện hành vi một cách cố ý hay vô ý. Nếu chủ thể không nhận thức được vì mắc bệnh tâm thần hay bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình (mất năng lực chịu trách nhiệm hành chính) thì hành vi của họ được coi là không có lỗi và chủ thể không bị coi là đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính, do đó không bị xử phạt12.
Thứ hai, hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước (tính trái pháp luật hành chính). Hành vi vi phạm hành chính được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và các hành vi đó được biểu hiện sau: - Không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính yêu cầu. - Thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính cấm.