Chương 1: Những vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trơ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từthực tiễn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1.1 Khái niệm và sự cần thiết thu hồi đất 1.1 Khái niệm thu hồi đất Trong lịch sử lập pháp Việt Nam cho đến nay, thu hồi đất trong quy hoạch mới được ghi vào Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển mới về cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất.
Lý do được viện dẫn để tiến hành thu hồi đất trong Hiến pháp năm 2013 tại khoản 3 Điều 54 là Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phục vụ quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng [23]. Thẩm quyền xác định sự “thật cần thiết” được trao cho Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Phạm vi các dự án được áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất so với pháp luật đất đai trước đó có thu hẹp hơn, không có hai loại dự án: (i) các dự án có vốn đầu tư lớn thuộc nhóm A; (ii) các dự án đầu tư có 100% vốn FDI. Ngoài ra, Luật Đất đai năm 2013 quy định kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ để thu hồi đất cho các mục đích nói trên [27].
Cơ sở pháp lý của thu hồi đất chủ yếu được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật về đất đai. Trong Luật đất đai qua từng thời kỳ, khi Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực cho đến nay, hoạt động thu hồi đất đều được quy định như là một công cụ quản lý nhà nước và cũng nhằm để thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai. Trong tình hình xã hội, các điều kiện về phát triển kinh tế, thu hồi đất còn được xem như là một giai đoạn của quá trình điều tiết, phân phối đất đai, tức là chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người này qua người khác để tạo ra giá trị đất đai cao hơn nhằm mục 7 đích phát triển kinh tế - xã hội ở mức cao hơn, hiện đại hơn [12, tr. Song song với quá trình phát triển của đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần dần được hoàn thiện hơn Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai, có quyền thu hồi đất bằng một quyết định hành chính.
Quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất. Trải qua nhiều năm đã có bốn Luật Đất đai (Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013) đều xác định có tính nguyên tắc “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân” do Nhà nước trao quyền sử dụng đất. Trước đó, Nhà nước thực hiện những biện pháp hành chính để chuyển đổi đất đai từ sở hữu tư nhân sang sở hữu toàn dân bằng các quy tắc, thể lệ, công văn hành chính. Luật Đất đai năm 1987 và năm 1993, đã có quy định về thu hồi đất, nhưng chưa đưa ra khái niệm rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ đưa ra các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 26 Luật Đất đai năm 1993).
Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất được giải thích tại khoản 5, Điều 4: “ Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này” [27]. Trong khi đã có những sự điều chỉnh và mở rộng ý nghĩa của vấn đề thu hồi đất, song cách quy định này chưa thật sự cụ thể, bởi nó có thể dẫn đến cách hiểu rằng, người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân sử đụng đất, và trên thực tế hộ gia đình, cá nhân là chủ thể bị thu hồi đất phổ biến nhất [12, tr. Trên cơ sở hiến định rõ ràng về thu hồi đất trong Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, tại khoản 11, Điều 4 đã quy định: “Nhà nước thu hồi 8 đất là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [28]. Do đó, thu hồi đất sẽ đưa đến hậu quả pháp lý tước quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.
Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích: Thứ nhất, thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước; Thứ hai, thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngày nay, có nhiều quan điểm liên quan khái niệm pháp lý về “ Nhà nước thu hồi đất”. Quan điểm thứ nhất cho rằng, thuật ngữ “ Nhà nước thu hồi đất” nói trên chỉ phù hợp đối với trường hợp thu lại đấ của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai hoặc do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, hoặc việc sử dụng mảnh đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Còn đối với trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nên sử dụng thuật ngữ “ trưng mua” hay “ trưng thu”.
Xét khía cạnh pháp lý, việc thu hồi quyền sử dụng đất, đặc biệt là các trường hợp gắn liền với nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gắn liền với thuật ngữ “ trưng mua” tài sản trong Hiến pháp năm 1992 ( Điều 23) hay Hiến pháp năm 2013 ( Điểu 32). Bởi lẽ, đất hay quyền sử dụng đất cũng đều là tài sản. Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005 và khoản 1 Điểu 105 Bộ Luật dân sự năm 2015 đã liệt kê tài sản là “ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” [19]. Ngoài ra, Điều 115 Bộ Luật dân sự năm 2015 đã khẳng định rằng quyền sử dụng đất chính là quyền tài sản [19].
Theo quan điểm này thì các thuật ngữ nên dùng là: (i) Nhà nước 9 trưng thu quyền sử dụng đất có bồi thường đối với các dự án vì lợi ích quốc phòng, an ninh và lợi ích công cộng không gắn với lợi ích của nhà đầu tư; (ii) Nhà nước trưng mua quyền sử dụng đất đối với các dự án vì lợi ích công cộng gắn với lợi ích của nhà đầu tư. Quan điểm thứ hai cho rằng, về bản chất, quyền sử dụng đất mà các cá nhân, tổ chức hiện nay phải nắm giữ nếu muốn tiếp cận, khai thác, sử dụng trên một thửa đất, là quyền do Nhà nước trao cho họ bằng con đường chuyển giao hoặc công nhận. Việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng không có nghĩa là Nhà nước hoàn toàn mất đi quyền này mà chỉ chuyển giao hoặc thừa nhận việc người sử dụng đất có quyền khai thác, sử dụng đất trong phạm vi trao quyền đã được giới hạn về không gian (diện tích sử dụng) và thời gian (thời hạn sử dụng). Vì đó là một quyền được trao bởi Nhà nước nên việc Nhà nước có thể lấy lại quyền này thông qua con đường thu hồi là hoàn toàn hợp lý.
Từ những nghiên cứu trên,đưa ra khái niệm về thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là sự kiện pháp lý với việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã được Nhà nước trao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật [12].2 Sự cần thiết của việc thu hồi đất Đất đai rất quan trọng, trong đó là tài sản, vừa là tư liệu sản xuất và là tài nguyên đặc biệt, nguồn lực quan trọng để cùng đất nước phát triển, được quản lý theo pháp luật hiện hành. Nó là tư liệu đầu vào không thể thiếu đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của con người. Hơn nữa, đây là loại tài sản bị hạn chế về nguồn cung nên việc phân phối, sử dụng phải thực sự hợp lý mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu của đời sống xã hội. Nhà nước Việt Nam tuy là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai trong phạm vi cả nước, nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà chuyển giao từng thửa đất nhất định cho người sử dụng đất phù hợp để 10 trực tiếp sử dụng.
Việc chuyển giao này được thực hiện thông qua các hình thức phân phối đất đai cụ thể được pháp luật quy định. Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, Nhà nước có thể thực hiện những thay đổi nhất định về mục đích sử dụng, về chủ thể sử dụng đất, về hình thức sử dụng đất.để cho đất đai được sử dụng có hiệu quả, nhằm phục vụ lợi ích chung cho xã hội. Trong đó, thu hồi đất là một giai đoạn quan trọng của tiến trình điều phối đất đai. Đất nước ta đang phát triển, việc chuyển dịch đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục đích khác diễn ra rất nhiều.