Phần mở đầu, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đối với Trường hợp 3 nêu trên với loại nhà ở là nhà ở thương mại được thế chấp tại các NHTM.12 Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân thế chấp NOHTTTL là nhà ở mua trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư, ngoài trường hợp mua NOHTTTL trực tiếp thông qua việc ký hợp đồng mua bán NOHTTTL với chủ đầu tư, pháp luật còn thừa nhận việc mua NOHTTTL thông qua việc ký văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán NOHTTTL với bên mua trước đó. LNO năm 2014 cũng quy định cụ 10 Xem: Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận án tiến s , Trường Đại h c Luật Hà Nội, tr. 11 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì TCTD bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. 12 Ngân hàng thương mại là loại hình TCTD được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận (Khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 thể các nguyên tắc thực hiện thế chấp NOHTTTL, theo đó: (i) bên thế chấp chắc chắn xác lập quyền sở hữu đối với nhà ở đã mua sau khi hoàn thành việc xây dựng với căn cứ chứng minh là hợp đồng mua bán nhà ở ký kết với chủ đầu tư, có văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở nếu là bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở; (ii) bên thế chấp hoàn thành ngh a vụ thanh toán theo hợp đồng (có giấy tờ chứng minh đã đóng tiền mua nhà ở cho chủ đầu tư theo tiến độ thỏa thuận trong hợp đồng mua bán); và (iii) bên thế chấp không thuộc diện đang có khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở hoặc về việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở này (Điểm c Khoản 1 Điều 148). Các nguyên tắc này đã được cụ thể hóa thông qua các điều kiện quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 26/2015/TT-NHNN, trong đó, Thông tư này đã bổ sung thêm hai điều kiện là NOHTTTL không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá d nhà ở của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặt khác, với việc thừa nhận chủ đầu tư có quyền thế chấp NOHTTTL trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của mình (Trường hợp 1 nêu trên), các nhà làm luật nhận thức được rủi ro NOHTTTL có thể được thế chấp hai lần (thế chấp chồng thế chấp) để vay vốn nên đã bổ sung quy định yêu cầu chủ đầu tư phải giải chấp nhà ở này trước khi ký hợp đồng hợp đồng mua bán (trừ trường hợp được bên mua và bên nhận thế chấp đồng ý) và việc xác định nhà ở đã được giải chấp phải được nêu rõ trong văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà ở (Khoản 1 Điều 147 LNO năm 2014). Quy định này đã phần nào hạn chế được rủi ro cho người mua đối với loại tài sản đặc biệt này.
Một điểm đáng lưu ý nữa liên quan đến việc thế chấp NOHTTTL là LNO năm 2014 quy định việc nhận thế chấp NOHTTTL tại các NHTM bị ràng buộc bởi điều kiện chỉ được cho vay để mua chính nhà ở đó. Bản chất của quy định này là nhằm bảo đảm NOHTTTL chắc chắn được hình thành và xác lập quyền sở hữu cho người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 mua; qua đó tái xác nhận một đặc điểm của NOHTTTL là có căn cứ chắc chắn quyền sở hữu đối với nhà ở sẽ được xác lập. Khái ni m và đ c đi m của vi c lý tài ản thế chấp là nhà hình thành t ong tương lai 1. Khái ni m lý tài ản thế chấp là nhà hình thành t ong tương lai Pháp luật Việt Nam hiện tại chưa có khái niệm xử lý TSBĐ.
Do đó, việc xử lý TSTC là NOHTTTL – một loại TSBĐ cụ thể, cũng không có một khái niệm cụ thể. Để giải quyết sự thiếu vắng của khái niệm xử lý TSBĐ trong quy định pháp luật và cũng để phục vụ việc nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra khái niệm về xử lý TSBĐ cụ thể trong các công trình nghiên cứu của mình. Việc nghiên cứu các khái niệm này, theo Tác giả, sẽ hữu ích cho việc xác định khái niệm xử lý TSTC là NOHTTTL. Với định hướng nghiên cứu việc xử lý TSBĐ là BĐS, tác giả Đỗ Thanh Huyền đã đưa ra khái niệm: “Xử lý T tiền vay là là một giai đoạn của bảo đảm tiền vay bằng tài sản là bất động sản, giai đoạn thực hiện các biện pháp đối với tài sản bảo đảm nhằm thu hồi khoản nợ mà các tổ chức t n dụng đã cho vay khi có sự vi phạm nghĩa vụ của khách hàng vay, bên bảo lãnh theo những cam kết tại hợp đồng t n dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay”.13 Mặc dù phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở việc xử lý TSBĐ với đối tượng BĐS nhưng khái niệm này không nêu bật được bất kỳ đặc điểm nào của đối tượng này.
Có thể thấy tác giả đã đưa ra khái niệm xử lý TSBĐ theo hướng chung nhất và có thể áp dụng cho m i loại TSBĐ. Theo đó, hoạt động xử lý TSBĐ được hiểu là một giai đoạn của giao dịch bảo đảm tiền vay, phát sinh trong trường hợp có sự vi phạm ngh a vụ của bên vay và các TCTD được áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi khoản nợ đã cho vay. Trong một công trình nghiên cứu khác, trên cơ sở lý giải quan hệ thế chấp dưới góc độ tiếp cận hai lý thuyết cơ bản là vật quyền và thế quyền, tác giả Vũ Thị Hồng Yến đã đưa ra khái niệm về xử lý TSTC như sau: “Xử lý tài sản thế chấp là quá trình thực thi quyền của bên nhận thế chấp thông qua việc tiến hành các thủ tục 13 em: Đỗ Thanh Huyền (2011), Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc s , Khoa Luật Đại h c quốc gia Hà Nội, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 định đoạt quyền sở hữu tài sản thế chấp và số tiền thu được sẽ thanh toán cho bên nhận thế chấp và các chủ thể khác cùng có quyền lợi trên tài sản đó theo thứ tự ưu tiên do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”.14 Có thể thấy, khái niệm này được xây dựng riêng cho giao dịch thế chấp chứ không giới hạn ở loại TSBĐ.
Như vậy, khái niệm này có thể áp dụng chung cho tất cả các loại tài sản là đối tượng của giao dịch thế chấp. Do được tác giả xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết trái quyền và vật quyền bảo đảm15, việc xử lý TSTC được định ngh a là một quá trình để thực thi quyền của bên nhận thế chấp thông qua các biện pháp tác động đến TSTC và mục đích của việc này là nhằm thanh toán số tiền thu được cho bên nhận thế chấp và các bên có liên quan (như các bên cùng nhận thế chấp) theo thứ tự ưu tiên đã được thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật. Theo Tác giả, cách xây dựng khái niệm xử lý TSTC nêu trên là phù hợp và có thể h c hỏi để xây dựng một khái niệm phù hợp cho TSTC là NOHTTTL vì các nguyên nhân sau: Thứ nhất, khái niệm xử lý TSTC có thể áp dụng cho NOHTTTL vì loại tài sản này là đối tượng của giao dịch thế chấp. Thứ hai, xử lý TSTC là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng chủ yếu là việc thực hiện các phương thức nhằm định đoạt TSTC, thu tiền và thanh toán ngh a vụ được bảo đảm.
Với quá trình này, quyền sở hữu của bên thế chấp chấm dứt và được chuyển giao một cách hợp pháp cho người khác (người mua/nhận chuyển nhượng TSTC hoặc bên nhận thế chấp trong trường hợp nhận chính TSTC). Quá trình này nhằm bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp. Quyền xử lý TSTC của bên nhận thế chấp được xác định dựa trên các điều khoản của HĐTC hợp pháp. HĐTC (mang đặc tính của quan hệ trái quyền) có ý ngh a là một trong 14 em: Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận án tiến s , Trường Đại h c Luật Hà Nội, tr.
15 em: Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận án tiến s , Trường Đại h c Luật Hà Nội, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 những căn cứ quan tr ng để đặt nền tảng cho việc bên nhận thế chấp thực thi quyền xử lý TSTC.16 Thứ ba, việc xử lý TSTC có mục đích và dẫn đến một hệ quả duy nhất là thanh toán ngh a vụ được bảo đảm cho bên nhận bảo đảm và các bên khác có quyền lợi liên quan. Nói cách khác, đây là hoạt động nhằm bảo đảm lợi ích của các chủ thể có quyền trên TSTC. Thứ tự ưu tiên thanh toán đối với các bên cùng nhận thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định của pháp luật chỉ có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận thế chấp có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau và bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền (Khoản 2 Điều 308 BLDS năm 2015).