Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Giao dịch bảo đảm là một chế định ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới, sự ra đời này đã tạo ra đƣợc một hành lang pháp lý tƣơng đối an toàn cho hoạt động tín dụng nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung; góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, góp phần hạn chế tối đa các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhƣng không đúng nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ.
Mục tiêu mà các giao dịch bảo đảm hƣớng tới chính là nhằm bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao dịch này. Áp dụng biện pháp bảo đảm, bên có quyền không chỉ có quyền theo hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ dùng để bảo đảm. Chúng ta cũng biết rằng, hoạt động tín dụng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất kỳ thay đổi, biến động dù chủ quan hay khách quan nào cùng có khả năng làm ảnh hƣởng đến sự phát triển an toàn trong hoạt động tín dụng, là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến việc khách hàng vi phạm các cam kết đã ký với 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổ chức tín dụng (TCTD). Do vậy việc bảo đảm tối đa quyền của TCTD (chủ nợ) đối với các khoản tín dụng đã cấp luôn là vấn đề đƣợc các TCTD quan tâm.
Trong lịch sử kinh doanh của các ngân hàng, cho vay có bảo đảm bằng tài sản luôn đƣợc xem là hình thức cho vay phổ biến nhất. Một mặt nó giúp cho các ngân hàng hạn chế đƣợc phần nào rủi ro tín dụng - góp phần đƣa các ngân hàng phát triển an toàn và bền vững, mặt khác đây là biện pháp giúp khách hàng có ý thức hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Theo pháp luật của các nƣớc theo hệ thống án lệ (common law), tiêu biểu là Mỹ và Canada, khái niệm giao dịch bảo đảm đƣợc hiểu là toàn bộ các giao dịch, không phụ thuộc vào hình thức và tên gọi, có mục đích tạo lập một quyền lợi đƣợc bảo đảm đối với tài sản riêng hoặc tài sản cố định, bao gồm: hàng hóa, giấy tờ có giá hoặc các tài sản vô hình khác; là giao dịch đƣợc thiết lập thông qua một thỏa thuận thuận bảo đảm (là thỏa thuận nhằm xác lập một lợi ích bảo đảm của chủ nợ đối với bên bảo đảm). Nhƣ vậy, giao dịch bảo đảm theo khái niệm trong luật án lệ không bị giới hạn về loại hình của giao dịch và đƣợc xác định căn cứ vào mục đích thiết lập giao dịch.
Do đó, các giao dịch bảo đảm không chỉ gồm những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo luật dân sự truyền thống mà còn bao gồm các giao dịch khác nhƣ: Bảo lƣu quyền sở hữu trong mua trả chậm, trả dần, chuyển nhƣợng quyền đòi nợ, quyền cầm giữ, thuê tài sản [33, tr. Ở các nƣớc theo trƣờng phái pháp luật thành văn, tiêu biểu là Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản không có khái niệm giao dịch bảo đảm nhƣ nêu trên, mà giao dịch bảo đảm đƣợc hiểu là các biện pháp bảo đảm cụ thể nhƣ: Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, bảo lƣu quyền sở hữu trong mua trả chậm, trả dần, quyền cầm giữ tài sản [33, tr. Ở Việt Nam, giao dịch bảo đảm nói chung đã hình thành từ rất sớm. Những quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trong giao lƣu dân sự và thƣơng mại, đặc biệt là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản đều đƣợc Bộ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật dân sự (BLDS) Bắc Kỳ 1936, Trung Kỳ 1939, Nam Kỳ 1910; BLDS, Bộ luật thƣơng mại của Việt nam Cộng hòa quy định.
Đặc biệt là kể từ khi nƣớc ta chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trƣờng thì việc bảo đảm thi hành nghĩa vụ dân sự (mà chủ yếu là sự bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay ngân hàng) ngày càng trở lên cấp bách và thiết thực. BLDS ban hành năm 1995 quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm có: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kỹ quỹ, ký cƣợc, bảo lãnh và phạt vi phạm. Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành các quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS năm 1995 có các văn bản: Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD (sau đây gọi tắt là Nghị định 178/1999/NĐ-CP), Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP. "Giao dịch bảo đảm" đƣợc hiểu là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự [3], theo quy định quy định này thì giao dịch bảo đảm đƣợc hiểu là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản, theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Theo cách hiểu này thì khái niệm giao dịch bảo đảm của Việt Nam sẽ có nội hàm hẹp hơn nhiều so với các khái niệm giao dịch bảo đảm mà các nƣớc theo hệ thống pháp luật án lệ đã đƣa ra. Trên nền tảng của BLDS năm 1995 và có sự điều chỉnh, khắc phục một số nội dung về giao dịch bảo đảm cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, BLDS năm 2005 ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 đã có quy định mới về giao dịch bảo đảm. Theo đó, các biện pháp bảo đảm tuy vẫn đƣợc quy định thành 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cƣợc, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp nhƣng đƣợc quy định cụ thể hơn, khắc phục đƣợc phần nào các vƣớng mắc mà các văn bản pháp luật ban hành trƣớc chƣa giải quyết. Đây cũng đƣợc 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem là điểm tiến bộ của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 về giao dịch bảo đảm.
Điều 323 BLDS năm 2005 đƣa ra khái niệm giao dịch bảo đảm với những nét khái quát, không chỉ là liệt kê các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đƣợc đề cập đến trong BLDS năm 1995 đã mở rộng phạm vi đăng ký và yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm. Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD ra đời đã ghi nhận cụ thể quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm của các TCTD. Các quy định này đã phần nào đảm bảo những an toàn nhất định cho chính ngƣời đi vay và cho Ngân hàng. Song việc chỉ quy định về bảo đảm tiền vay trong việc cấp tín dụng dƣới hình thức cho vay của các TCTD đối với khách hàng theo quy định của Luật các TCTD là chƣa đủ, đây cũng là nguyên nhân nhiều khoản nợ chƣa thể xử lý đƣợc, khả năng thu hồi khó, gây rủi ro cho các ngân hàng cho vay.
Sự ra đời của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) đã phần nào khắc phục đƣợc các hạn chế của Nghị định 178/1999/NĐ-CP, với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh và các biện pháp bảo đảm nhƣ quy định tại BLDS (bằng việc bổ sung thêm ba biện pháp bảo đảm là đặt cọc, ký quỹ, ký cƣợc) thì không những đã mở rộng thêm quyền lựa chọn cho các TCTD, khách hàng trong việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay mà còn tạo hành lang pháp lý cho việc xử lý các giao dịch bảo đảm. Tùy từng trƣờng hợp cụ thể mà TCTD và khách hàng có thể thỏa thuận hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm phù hợp, mở ra các cơ hội thuận lợi cho cả hai phía trong quá trình vay vốn ngân hàng trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa giao dịch bảo đảm là sự thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, theo đó bên bảo đảm cam kết dùng tài sản hoặc/và uy tín của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính mình hoặc của bên thứ ba đối với bên nhận bảo đảm. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc trưng của giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Về bản chất, giao dịch bảo đảm thực chất là một loại hình cụ thể của giao dịch dân sự, vì vậy, nó cũng có những đặc điểm chung, những thuộc tính cơ bản nhƣ các giao dịch dân sự khác. Tuy nhiên, bên cạnh đó giao dịch bảo đảm còn thể hiện các đặc trƣng nhƣ sau: Thứ nhất, giao dịch bảo đảm có mục đích hạn chế quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản đối với tài sản, đồng thời tạo ra quyền ƣu tiên cho bên nhận bảo đảm trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Từ thời điểm giao dịch bảo đảm có hiệu lực, bên nhận bảo đảm sẽ có quyền ƣu tiên hơn so với các chủ nợ khác của bên bảo đảm trong việc thu hồi nợ từ tiền bán tài sản. Đây cũng chính là đặc điểm lớn nhất để phân biệt giữa quyền của chủ nợ có bảo đảm với quyền của chủ nợ không có đảm bảo trong quá trình chiếm hữu, quản lý và xử lý tài sản để thu hồi nợ.