CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại – Chủ thể nắm giữ và có nhu cầu xử lý nợ xấu 1.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một định chế tài chính quan trọng bậc nhất đối với nền kinh tế bởi vì chúng cung cấp các dịch vụ quan trọng cho cả người tiêu dùng và doanh nghiệp. Các dịch vụ tài chính được Ngân hàng cung cấp bao gồm nhận tiền gửi và cho vay, quản lý tài sản, trao đổi tiền tệ và hộp ký gửi an toàn. Theo như định nghĩa tại luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì NHTM Nhà nước được quy định cụ thể như sau: Ngân hàng thương mại Nhà nước là NHTM trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Ngoài ra, còn giải thích khái niệm của các NHTM khác tại Việt Nam như sau: - Ngân hàng thương mại cổ phần là NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. - Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một Ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Ngân hàng mẹ). Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. - Ngân hàng thương mại liên doanh là NHTM được thành lập tại Việt 5 Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều Ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều Ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
NHTM liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Tóm lại, NHTM có thể hiểu là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ đặt lợi nhuận là mục đích hướng tới. Với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng cùng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu để làm phương tiện thanh toán. Vì là một tổ chức kinh doanh, NHTM hoạt động dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Phân loại Ngân hàng thương mại NHTM được phân loại dựa trên 3 cơ sở khác nhau: dựa vào hình thức sở hữu, dựa vào chiến lược kinh doanh và dựa vào hình thức sở hữu. Thứ nhất, dựa vào hình thức sở hữu thì Ngân hàng được chia thành 5 loại: Một, ngân hàng thương mại quốc doanh: đây là Ngân hàng được thành lập từ 100% nguồn vốn nhà nước. Tuy nhiên hiện nay để bắt kịp xu hướng kinh tế hội nhập và phát triển thì các Ngân hàng quốc doanh cũng đã có nhiều chính sách để có thể tăng vốn và giá trị Ngân hàng thông qua phát hành trái phiếu hay cổ phần hóa Ngân hàng. Đây là hình thức Ngân hàng giữ vai trò cốt yếu trong chuỗi mắc xích Ngân hàng của nước ta.
Vì sở hữu 100% vốn thuộc ngân sách nhà nước nên các Ngân hàng này hoạt động chủ yếu dưới sự quản lý của Nhà nước và ngoài các hoạt động thông thường, các NHTM quốc doanh còn phải thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao cho. Một số NHTM quốc doanh: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Hai, Ngân hàng thương mại cổ phần: ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập từ việc góp vốn kinh doanh của các cổ đông và doanh nghiệp. 6 Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu một số lượng cổ phần giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Một số NHTM cổ phần ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DongA Bank). Ba, Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được thành lập theo hình thức góp vốn liên doanh giữa Ngân hàng Việt Nam và Ngân hàng nước ngoài. Trong đó, tỷ lệ góp của đối tác nước ngoài không quá 50%, trụ sở làm việc chính phải được đặt tại Việt Nam và hoạt động dưới sự quản lý của pháp luật Việt Nam. Một số Ngân hàng liên doanh ở Việt Nam: Ngân hàng Việt Nga (VRB) và Indovina Bank Limited (IVB).
Bốn, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Ngược lại với Ngân hàng quốc doanh thì đây là Ngân hàng có số vốn 100% từ nguồn vốn nước ngoài, được thành lập dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, có đầy đủ các quyền như một Ngân hàng thông thường và được phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ tại thị trường Việt Nam. Thời gian hoạt động của Ngân hàng này không được quá 99 năm. Một số NHTM vốn 100% nước ngoài ở Việt Nam: Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC và Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ. Năm, Ngân hàng chi nhánh nước ngoài: Ngân hàng được thành lập 100% vốn nước ngoài theo luật pháp nước ngoài và được phép hoạt động tại Việt Nam.
Một số Ngân hàng chi nhánh nước ngoài ở Việt Nam: Citibank và Bangkok Bank Thứ hai, dựa vào chiến lược kinh doanh, chúng ta có các loại hình ngân hang sau: Một, Ngân hàng thương mại bán buôn: Những Ngân hàng này nhắm tới đối tượng khách hàng là những doanh nghiệp, công ty tài chính lớn hay các tập đoàn kinh tế. Hiếm khi mà các Ngân hàng này có giao dịch với khách hàng cá nhân. Danh mục sản phẩm dịch vụ của các Ngân hàng này 7 thường không đa dạng nhưng bù lại thì giá trị từng giao dịch cực kì lớn. Hai, Ngân hàng thương mại bán lẻ: Được biết đến là những Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho nhóm khách hàng cá nhân hay các công ty vừa và nhỏ.
Các Ngân hàng loại này thường hướng tới đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ để có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng. Giá trị mỗi giao dịch thường không lớn nhưng lại có số lượng giao dịch cao. Ba, Ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ: Những Ngân hàng thực hiện cả hai hoạt động vừa bán buôn vừa bán lẻ là loại Ngân hàng hướng đến khách hàng mục tiêu là tất cả các phân khúc khách hàng từ cá nhân đến doanh nghiệp, từ nhỏ đến lớn. Giá trị giao dịch và số lượng thường không cố định.
Thứ ba, dựa vào tính chất hoạt động: Ngân hàng chuyên doanh - Hình thức Ngân hàng chỉ hoạt động chuyên về một lĩnh vực nhất định, ví dụ như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…; Ngân hàng kinh doanh tổng hợp là loại Ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực kinh tế và thực hiện gần như hầu hết tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một Ngân hàng được phép thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra còn có nhiều dạng Ngân hàng khác như: Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác. Chức năng của Ngân hàng thương mại Thứ nhất, chức năng trung gian tín dụng: có thể xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Bởi vì khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò như là một chiếc cầu nối liên kết giữa đơn vị thặng dư và đơn vị thâm hụt trong nền kinh tế.
Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là nơi nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay với mục đích hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay. Điều này đã góp phần tạo nên lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Nhận tiền gửi và cho vay chính là hoạt 8 động trọng yếu nhất của NHTM vì nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán: Ở đây Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi cả ở trong nước hay ở nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu mà khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế ngày một vững mạnh.
Thứ ba, chức năng tạo tiền: là một chức năng vô cùng thiết yếu. Thông qua chức năng này có thể phản ánh bản chất của NHTM một cách rõ ràng nhất. Nhằm hướng tới lợi nhuận như là mục đích cho sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng có thể sử dụng số vốn huy động được để cho vay, sau đó số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ hay kinh doanh trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi 9 thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.