Tổng quan nghiên cứu

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do dư lượng dược phẩm kháng sinh và kháng viêm không steroid đang trở thành thách thức sinh thái nghiêm trọng trên toàn cầu. Theo các nghiên cứu dược lý, có tới 60% lượng thuốc kháng viêm diclofenac sau khi dung nạp vào cơ thể người sẽ bị đào thải trực tiếp ra ngoài qua hệ bài tiết dưới dạng hoạt chất nguyên vẹn hoặc chất chuyển hóa. Báo cáo từ hệ thống Vigibase của Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận 5.780 ca gặp phản ứng có hại liên quan đến diclofenac, trong đó có 38% trường hợp dị ứng ngoài da và 28% phản ứng phù nề. Khi thâm nhập vào các dòng chảy tự nhiên, hợp chất này không chỉ phá hủy hệ vi sinh vật mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc mãn tính cho nguồn nước sinh hoạt của con người.

Trước thực trạng đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hóa phân tích của tác giả Thân Mạnh Trường tập trung giải quyết bài toán: Chế tạo vật liệu hấp phụ hiệu năng cao từ đá ong tự nhiên biến tính bề mặt bằng chất hoạt động bề mặt cation cetyltrimethylammonium bromide nhằm thu gom triệt để diclofenac trong nước. Nghiên cứu sử dụng nguồn khoáng đá ong dồi dào tại huyện Thạch Thất, Hà Nội, nơi mẫu thô có hàm lượng sắt oxit (Fe2O3) chiếm tới 78,23% và nhôm oxit (Al2O3) đạt 7,23%. Toàn bộ quá trình thực nghiệm và kiểm tra độ tương đồng được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên trong năm 2022 với mức tương đồng Turnitin đạt 19%.

Công trình mang giá trị thực tiễn to lớn khi chuyển hóa một khoáng sản bản địa giá rẻ thành chất hấp phụ tiên tiến, nâng hiệu suất khử diclofenac từ 31,12% của đá ong tự nhiên lên tới 91,95% ở trạng thái biến tính, mở ra giải pháp xanh cho xử lý nước thải y tế tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng mô hình hấp phụ hai bước của nhóm tác giả Zhu kết hợp với mô hình đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich nhằm mô tả tương tác bề mặt giữa chất hoạt động bề mặt và khoáng oxit. Các khái niệm trọng tâm bao gồm:

  • Cetyltrimethylammonium bromide (CTAB): Chất hoạt động bề mặt cation mang nhóm amin bậc bốn tích điện dương và chuỗi hydrocacbon kỵ nước dài.
  • Diclofenac (DC): Thuốc chống viêm không steroid có công thức C14H11Cl2NO2 với hằng số phân ly axit pKa là 4,24, quy định điện tích của phân tử tùy thuộc vào pH dung dịch.
  • Điểm đẳng điện (pHzpc): Điểm pH mà tại đó mật độ điện tích tổng cộng trên bề mặt vật liệu bằng 0.
  • Lực hút tĩnh điện và tương tác kỵ nước: Động lực liên kết giữa tâm tích điện dương của CTAB với nhóm carboxylate mang điện âm của diclofenac cùng sự đan xen của các vòng thơm benzen.

Cấu trúc vật liệu biến tính được khẳng định qua phổ hồng ngoại với hai dải dao động đặc trưng của nhóm alkyl tại số sóng 2924,09 cm-1 và 2854,65 cm-1.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu đá ong thu thập ngẫu nhiên tại tầng phong hóa đại diện ở Thạch Thất, Hà Nội, được đập nhỏ, nghiền mịn và rây phân đoạn để thu cỡ hạt đồng nhất. Quá trình biến tính tiến hành ở pH 10 với tỷ lệ khối lượng trên thể tích là 1 : 20 trong dung dịch chứa CTAB 1000 mg/L và KCl 10 mM suốt 180 phút, sấy khô ở 70 độ C.

Cỡ mẫu khảo sát điểm đẳng điện gồm 8 mẫu dung dịch NaCl 0,1 M có dải pH ban đầu tăng dần từ 2,40 đến 9,40. Các khảo sát hấp phụ đều được lặp lại độc lập 3 lần để lấy giá trị trung bình với độ lệch chuẩn nhỏ hơn 6,0.

Về thiết bị, diện tích bề mặt riêng được đo theo phương pháp BET bằng kỹ thuật hấp phụ đẳng nhiệt nitơ ở 77 Kelvin trên máy Tristar 3000. Tổng lượng cacbon hữu cơ (TOC) xác định qua hệ thống Multi NC 3100. Nồng độ diclofenac được phân tích bằng máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-1700 tại bước sóng cực đại 275 nm. Phương pháp UV-Vis được chọn nhờ độ nhạy quang học cao, đường chuẩn tuyến tính đạt hệ số tương quan r tiệm cận 1,0 trong khoảng nồng độ từ 1,0 đến 20,0 mg/L, thao tác đơn giản và tiết kiệm chi phí vận hành hơn nhiều so với sắc ký lỏng khi phân tích lượng lớn mẫu thí nghiệm. Toàn bộ thực nghiệm hoàn tất trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Công trình thực nghiệm đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học mang tính đột phá về cấu trúc và hiệu năng xử lý:

  • Hiệu suất hấp phụ bứt phá: Đá ong tự nhiên chỉ đạt hiệu suất hấp phụ diclofenac khiêm tốn là 31,12% ± 0,93% với nồng độ cân bằng còn lại 17,63 mg/L. Sau khi biến tính bằng CTAB, hiệu suất hấp phụ tăng vọt lên 91,95% ± 2,04%, nồng độ hoạt chất tồn dư giảm mạnh xuống mức 2,06 mg/L, tương ứng mức gia tăng hiệu quả gần 2,95 lần.
  • Sự biến đổi bề mặt và hàm lượng hữu cơ: Diện tích bề mặt riêng BET của đá ong giảm từ 41,51 m2/g xuống 33,75 m2/g (giảm 18,69%), chứng tỏ các chuỗi alkyl của CTAB đã phủ kín lên các lỗ xốp khoáng. Ngược lại, tổng lượng cacbon hữu cơ (TOC) tăng từ 4,91 g/kg lên 11,00 g/kg, tức tăng hơn 124%, xác nhận mật độ chất hoạt động bề mặt bám dính dày đặc.
  • Dịch chuyển điểm đẳng điện về vùng kiềm: Điểm đẳng điện pHzpc của đá ong biến tính tăng từ 5,2 lên 6,3, phản ánh sự chiếm lĩnh của các ion ammonium bậc bốn mang điện tích dương trên mạng lưới oxit.
  • Động học hấp phụ siêu nhanh: Quá trình tiếp xúc pha đạt trạng thái cân bằng chỉ sau 15 phút với hiệu suất 91,95% và duy trì ổn định đến 90 phút (92,41%), nhanh hơn gấp nhiều lần so với các dòng than hoạt tính truyền thống.

Thảo luận kết quả

Cơ chế hấp phụ diclofenac được lý giải thông qua tương tác điện tích phụ thuộc pH. Với pKa bằng 4,24, khi pH môi trường lớn hơn 4,24, các phân tử diclofenac phân ly hoàn toàn thành dạng anion carboxylate. Khi đó, bề mặt đá ong biến tính tích điện dương sẽ hút mạnh các anion này qua lực tương tác tĩnh điện, kết hợp cùng hiệu ứng kỵ nước giữa các vòng benzen của diclofenac và đuôi hydrocacbon của CTAB.

Sự phụ thuộc của dung lượng hấp phụ vào pH được thể hiện trực quan qua bảng dữ liệu thực nghiệm: Tại pH 5,0 và 6,0, hiệu suất hấp phụ đạt đỉnh tương ứng 91,66% và 90,73% với dung lượng q đạt 2,33 mg/g. Tuy nhiên, khi tăng pH từ 7,0 lên 11,0, hiệu suất giảm tuyến tính từ 85,18% xuống chỉ còn 64,48% (dung lượng q giảm về 1,60 mg/g). Hiện tượng suy giảm này bắt nguồn từ sự cạnh tranh vị trí hấp phụ gay gắt của ion hydroxyl (OH-) và sự hòa tan một phần thành phần oxit nhôm Al2O3 trong môi trường kiềm mạnh. Đồ thị khảo sát tỷ lệ vật liệu cũng chỉ ra ngưỡng tối ưu là 10 g/L, đưa hiệu suất lên 93,24% so với mức 63,95% ở tỷ lệ 2 g/L.

Đường cong hấp phụ - giải hấp nitơ theo mô hình BET cho thấy cấu trúc mao quản trung bình rõ rệt của vật liệu. So với nghiên cứu của Đinh Thị Dịu sử dụng nanosilica biến tính CTAB hay nhóm tác giả Paula Valeria Viotti dùng than hoạt tính từ dừa, đá ong biến tính Thạch Thất có ưu thế vượt trội về tốc độ đạt cân bằng nhanh và chi phí nguyên liệu đá khoáng cực thấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, bốn giải pháp chiến lược được đề xuất:

  • Chuẩn hóa quy trình sản xuất vật liệu đá ong biến tính quy mô công nghiệp: Tối ưu hóa phản ứng gắn phủ CTAB 1000 mg/L trên đá ong Thạch Thất ở quy mô pilot 50 kg/mẻ nhằm giảm 30% chi phí hóa chất phụ trợ và hạ giá thành vật liệu xuống dưới 15.000 VNĐ/kg. Chủ thể thực hiện là Viện Hóa học phối hợp cùng các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ địa phương trong thời gian 6 tháng đầu năm 2024.
  • Thiết kế module cột lọc hấp phụ liên tục cho trạm xử lý nước thải y tế: Chế tạo thiết bị lọc động dòng chảy liên tục với tỷ lệ nạp vật liệu 10 g/L, đảm bảo xử lý dòng thải chứa diclofenac nồng độ 25 mg/L với tốc độ dòng 5 mL/phút, duy trì hiệu suất lọc liên tục trên 90%. Chủ thể thực hiện là kỹ sư môi trường tại các bệnh viện đa khoa và công ty dược phẩm, triển khai từ tháng 7/2024 đến tháng 12/2024.
  • Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật kiểm soát dư lượng thuốc chống viêm trong nước: Ban hành ngưỡng giới hạn nồng độ diclofenac cho phép trong nước thải y tế sau xử lý ở mức dưới 0,05 mg/L trước khi xả ra nguồn tiếp nhận tự nhiên. Chủ thể thực hiện là Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Cục Quản lý Môi trường Y tế trong giai đoạn 2024 - 2025.
  • Thiết lập quy trình tuần hoàn tái sinh vật liệu bằng dung dịch kiềm loãng: Ứng dụng kỹ thuật rửa giải bão hòa bằng dung dịch natri hydroxit NaOH 0,1 M và nước cất nhằm thu hồi diclofenac, cho phép tái sử dụng vật liệu tối thiểu 3 chu kỳ liên tiếp mà vẫn giữ vững trên 80% dung lượng hấp phụ gốc. Đơn vị vận hành hệ thống xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp dược phẩm chịu trách nhiệm thực thi định kỳ hàng quý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung học thuật và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị chuyên môn thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa học, Kỹ thuật Môi trường: Bản luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp biến tính khoáng sét, kỹ thuật xác định điểm đẳng điện bằng phương pháp đo độ lệch pH, cũng như cách dựng đường chuẩn UV-Vis ở bước sóng 275 nm đạt chuẩn Turnitin với tỷ lệ tương đồng chỉ 19%.
  • Kỹ sư thiết kế và vận hành trạm xử lý nước thải y tế: Cung cấp trực tiếp các thông số kỹ thuật thực chứng gồm tỷ lệ pha rắn lỏng 10 g/L, thời gian phản ứng 15 phút và dải pH hoạt động 5,0 - 6,0 để ứng dụng ngay vào việc cải tạo các bể hấp phụ xử lý dư lượng thuốc kháng sinh, giảm trên 91% chi phí vận hành hóa chất cao cấp.
  • Giảng viên đại học các ngành Hóa phân tích và Khoa học Trái đất: Sử dụng dữ liệu phổ FT-IR, số liệu diện tích bề mặt BET 33,75 m2/g và phân tích TOC 11,00 g/kg làm bài giảng tình huống thực tế về hóa học bề mặt và tương tác chất hoạt động bề mặt trên oxit kim loại.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý môi trường: Bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc xây dựng danh mục kiểm soát các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy và tân dược tồn dư trong hệ thống thoát nước đô thị.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lại chọn đá ong Thạch Thất làm chất hấp phụ nền?

Đá ong tự nhiên tại Thạch Thất có trữ lượng dồi dào, khai thác dễ dàng và chứa tỷ lệ sắt oxit Fe2O3 lên đến 78,23% cùng Al2O3 đạt 7,23%. Thành phần oxit kim loại cao mang lại hoạt tính bề mặt tự nhiên. Mặc dù mẫu thô chỉ hấp phụ được 31,12% diclofenac, nguồn khoáng sản này là giá thể lý tưởng để biến tính hóa học với giá thành cực rẻ.

Hóa chất CTAB giữ vai trò thế nào trong việc gia tăng khả năng hấp phụ?

Cetyltrimethylammonium bromide (CTAB) là chất hoạt động bề mặt cation sở hữu nhóm amin bậc bốn tích điện dương. Khi hấp phụ lên đá ong, CTAB làm tăng điểm đẳng điện từ 5,2 lên 6,3 và nâng hàm lượng cacbon hữu cơ TOC lên 11,00 g/kg. Cấu trúc này tạo ra lực hút tĩnh điện cực mạnh đối với anion diclofenac, giúp hiệu suất hấp phụ tăng vọt lên 91,95%.

Vì sao bước sóng 275 nm được lựa chọn để phân tích trắc quang diclofenac?

Quá trình quét phổ UV-Vis từ 200 đến 400 nm xác định cực đại hấp thụ quang của diclofenac xuất hiện rõ nét tại bước sóng 275 nm. Tại đây, độ hấp thụ quang tuân theo định luật Bouguer-Lambert-Beer hoàn hảo trong khoảng nồng độ 1,0 - 20,0 mg/L, triệt tiêu ảnh hưởng của tạp chất nền và đảm bảo độ lặp lại phân tích với độ lệch chuẩn cực nhỏ.

Giá trị pH tối ưu nhất để xử lý diclofenac trong nước là bao nhiêu?

Khoảng pH tối ưu nằm từ 5,0 đến 6,0 với hiệu suất khử đạt trên 90,73%. Do diclofenac có pKa là 4,24 nên ở pH 6,0 thuốc tồn tại hoàn toàn ở dạng anion mang điện âm, rất thuận lợi để liên kết với bề mặt mang điện dương của đá ong biến tính. Tại pH kiềm trên 9,0, ion OH- cạnh tranh mạnh làm hiệu suất sụt xuống 64,48%.

Quy trình giải hấp và khả năng tái sử dụng của vật liệu diễn ra như thế nào?

Sau khi đạt cân bằng hấp phụ, vật liệu được rửa giải bằng dung dịch kiềm NaOH 0,1 M. Môi trường kiềm cao làm đảo chiều điện tích bề mặt và cung cấp lượng lớn OH-, đẩy toàn bộ phân tử diclofenac ra khỏi bề mặt. Sau khi rửa trung tính bằng nước cất và sấy ở 70 độ C, vật liệu có thể tái sử dụng nhiều lần mà vẫn giữ dung lượng cao.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã giải quyết trọn vẹn bài toán chuyển hóa khoáng vật tự nhiên thành vật liệu xử lý môi trường tân tiến qua 5 kết quả cốt lõi:

  • Tổng hợp thành công vật liệu hấp phụ từ đá ong tự nhiên Thạch Thất biến tính bằng chất hoạt động bề mặt cation CTAB ở điều kiện pH 10.
  • Nâng cao hiệu suất loại bỏ hoạt chất kháng viêm diclofenac từ 31,12% lên mức 91,95%, giảm nồng độ tồn dư trong nước xuống 2,06 mg/L.
  • Rút ngắn thời gian đạt cân bằng hấp phụ xuống mức kỷ lục chỉ trong 15 phút, vượt trội hoàn toàn so với các vật liệu xốp thông thường.
  • Xác lập điều kiện vận hành tối ưu với tỷ lệ vật liệu 10 g/L, pH dung dịch bằng 6,0 và nồng độ chất biến tính CTAB 1000 mg/L.
  • Minh chứng cơ chế liên kết phối hợp giữa lực hút tĩnh điện mạnh mẽ và tương tác kỵ nước qua các phân tích chuyên sâu FT-IR, TOC và pHzpc.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là tạo ra giải pháp công nghệ tuần hoàn, chi phí thấp nhằm loại bỏ dư lượng tân dược độc hại trong nước. Kế hoạch trong 6 đến 12 tháng tới sẽ tập trung thử nghiệm cột lọc pilot trên nguồn nước thải bệnh viện thực địa và tối ưu hóa quy trình hoàn nguyên vật liệu. Các đơn vị y tế và doanh nghiệp môi trường hãy chủ động liên hệ nhóm tác giả để tiếp nhận chuyển giao quy trình xử lý nước thải tiên tiến và đầy tiềm năng này.