Luận văn: Chiến lược xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh ở Vân Hồ, Sơn La

Luận văn: Chiến lược xóa đói giảm nghèo ở Vân Hồ, Sơn La, góp phần đảm bảo an ninh phi truyền thống. Nghiên cứu chuyên sâu, giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

62
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

1.1. Đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo

1.1.1. Khái niệm về đói nghèo

1.1.2. Nguyên nhân của đói nghèo

1.2. Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam

1.3. An ninh phi truyền thống và vai trò của xóa đói giảm nghèo trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống

1.4. Chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo

1.4.1. Chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo

2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO TẠI HUYỆN VÂN HỒ SƠN LA

2.1. Thực trạng kinh tế- xã hội của huyện Vân Hồ

2.1.1. Về kinh tế

2.1.2. Về chính trị - an ninh-quốc phòng

2.2. Thực trạng đói nghèo ở huyện Vân hồ

2.2.1. Vấn đề an ninh lƣơng thực

2.2.2. Tình trạng đói nghèo

2.2.3. Một số phát hiện khác

2.3. Kết quả thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo

3. CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƢỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO NHẰM ĐẢM BẢO AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

3.1. Cơ sở đề xuất chiến lƣợc

3.1.1. Thách thức

3.1.2. Kết quả phỏng vấn

3.2. Đề xuất chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo của huyện Vân Hồ

3.2.1. Định hƣớng chiến lƣợc

3.2.2. Định hƣớng giải pháp

3.2.3. Chiến lƣợc ƣu tiên

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Xóa Đói Giảm Nghèo Vân Hồ và An Ninh Phi Truyền Thống

Huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, đối mặt với nhiều thách thức trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Mặc dù có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái, nông nghiệp chất lượng cao và văn hóa truyền thống, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số Vân Hồ còn nhiều khó khăn. Sự nghèo đói không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến an ninh phi truyền thống. Theo luận văn của Vũ Hoài Bắc, thiếu cách tiếp cận thông minh và chiến lược đột phá là nguyên nhân khiến vấn đề này kéo dài nhiều năm. Để xóa đói giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ, cần có một chiến lược toàn diện, kết hợp các giải pháp kinh tế, xã hội và an ninh.

1.1. Vị trí địa lý và tiềm năng phát triển kinh tế Vân Hồ

Vân Hồ có vị trí chiến lược trên tuyến Quốc lộ 6, gần Hà Nội, khí hậu mát mẻ và nhiều cảnh quan đẹp. Điều kiện tự nhiên này thuận lợi cho du lịch cộng đồngphát triển nông nghiệp chất lượng cao. Tuy nhiên, theo báo cáo của Huyện Vân Hồ, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là ở các xã vùng sâu vùng xa. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng của Vân Hồ.

1.2. Sự cần thiết của giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững

Tình trạng nghèo đói kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người dân mà còn gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực cho xã hội, làm gia tăng tình trạng phá rừng, sử dụng thuốc diệt cỏ độc hại và buôn lậu ma túy. Để đảm bảo an ninh trật tự Vân Hồphát triển bền vững, cần có một chiến lược xóa đói giảm nghèo hiệu quả, tập trung vào tạo sinh kế bền vững cho người dân.

II. Thách Thức An Ninh Phi Truyền Thống và Đói Nghèo ở Vân Hồ

Vấn đề đói nghèo ở Vân Hồ không chỉ là bài toán kinh tế mà còn liên quan mật thiết đến các vấn đề an ninh phi truyền thống, như an ninh lương thực, an ninh môi trườngan ninh trật tự. Tình trạng thiếu việc làm, thiếu vốn sản xuất và trình độ dân trí thấp là những yếu tố cản trở công cuộc xóa đói giảm nghèo. Theo khảo sát thực tế, nhiều người dân vẫn phải đối mặt với khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và thông tin. Đồng thời, các tệ nạn xã hội như buôn bán ma túybuôn người cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và an ninh của cộng đồng.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu Vân Hồ và phá rừng

Biến đổi khí hậuphá rừng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho Vân Hồ, như mất an ninh nguồn nước, sạt lở đấtlũ quét. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân, làm gia tăng nguy cơ đói nghèo. Việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là yếu tố then chốt để đảm bảo phát triển bền vững Vân Hồ.

2.2. Mối liên hệ giữa đói nghèo và các tệ nạn xã hội tại Vân Hồ Sơn La

Tình trạng đói nghèo là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các tệ nạn xã hội như buôn bán ma túy, buôn ngườitrộm cắp. Khi người dân không có đủ nguồn lực để đảm bảo cuộc sống, họ dễ bị lôi kéo vào các hoạt động phi pháp. Việc tăng cường giáo dục, tạo việc làm và hỗ trợ sinh kế cho người dân là những giải pháp quan trọng để ngăn chặn các tệ nạn này.

2.3. Thách thức trong An ninh lương thực Vân Hồ

Theo khảo sát, sinh kế của đồng bào chủ yếu từ trồng trọt, chăn nuôi. Ngô là cây trồng chính, chỉ đủ cung cấp cho gia đình. Việc tiếp cận các loại thực phẩm khác còn hạn chế. Sự phụ thuộc vào một loại cây trồng duy nhất làm tăng tính bấp bênh trong an ninh lương thực. Đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi là giải pháp cần thiết.

III. Giải Pháp Hỗ Trợ Sinh Kế Vân Hồ và Phát Triển Kinh Tế Bền Vững

Để giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan đến đói nghèo, cần tập trung vào các giải pháp hỗ trợ sinh kế Vân Hồphát triển kinh tế bền vững. Điều này bao gồm việc tạo cơ hội việc làm, nâng cao trình độ dân trí, cung cấp vốn sản xuất và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân. Đồng thời, cần chú trọng phát triển các ngành kinh tế có tiềm năng như du lịch cộng đồng, nông nghiệp chất lượng cao và văn hóa truyền thống. Theo luận văn của Vũ Hoài Bắc, các giải pháp cần phải dựa trên sự thấu hiểu địa phương sâu sắc và có tính đột phá.

3.1. Phát triển du lịch cộng đồng Vân Hồ gắn với văn hóa truyền thống

Du lịch cộng đồng là một trong những ngành kinh tế có tiềm năng lớn để tạo sinh kế cho người dân Vân Hồ. Việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, kết hợp với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo và hấp dẫn. Theo Báo cáo Phát triển Kinh tế - Xã hội Huyện Vân Hồ, hiện tại huyện có nhiều thắng cảnh đẹp có giá trị khai thác du lịch sinh thái, tuy nhiên còn nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng và dịch vụ.

3.2. Thúc đẩy nông nghiệp Vân Hồ chất lượng cao và hợp tác xã

Phát triển nông nghiệp Vân Hồ chất lượng cao là một giải pháp quan trọng để tăng thu nhập cho người dân. Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, sử dụng giống cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng thời, cần khuyến khích thành lập các hợp tác xã Vân Hồ để hỗ trợ người dân trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

3.3. Đầu tư vào giáo dục và Y tế tại Vân Hồ

Nâng cao trình độ dân trí và sức khỏe là yếu tố quan trọng trong xóa đói giảm nghèo. Đầu tư vào giáo dục giúp người dân có kiến thức và kỹ năng để tìm kiếm việc làm tốt hơn. Cải thiện hệ thống y tế giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm gánh nặng bệnh tật. Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và giáo dục cần được ưu tiên.

IV. Ứng Dụng Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Hiệu Quả tại Vân Hồ

Để các giải pháp trên đạt hiệu quả, cần có các chính sách xóa đói giảm nghèo phù hợp với điều kiện thực tế của Vân Hồ. Các chính sách này cần tập trung vào việc hỗ trợ sinh kế, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện cơ sở hạ tầngbảo vệ môi trường. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện.

4.1. Tăng cường truyền thông Vân Hồ về xóa đói giảm nghèo và an ninh

Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèoan ninh phi truyền thống. Cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về các chính sách, chương trình hỗ trợ của nhà nước, cũng như các biện pháp phòng ngừa các tệ nạn xã hội.

4.2. Xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới Vân Hồ

Mô hình phát triển nông thôn mới Vân Hồ cần tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và đảm bảo an ninh trật tự. Việc xây dựng các khu dân cư kiểu mẫu, với đầy đủ các tiện ích công cộng, sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

4.3. Phát triển nguồn lực đầu tư vào con người

Đầu tư vào các chương trình giáo dục kỹ năng, đào tạo nghề, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ địa phương. Hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi để khởi nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin và công nghệ mới.

V. Kết Luận Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững và Tương Lai của Vân Hồ

Công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững Vân Hồ không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn là sự chung tay của toàn xã hội. Với sự nỗ lực của người dân, sự hỗ trợ của nhà nước và sự tham gia của các tổ chức xã hội, Vân Hồ có thể đạt được mục tiêu trở thành một huyện miền núi phát triển, với đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Theo Luận văn của Vũ Hoài Bắc, đây cũng là tiền đề quan trọng để đảm bảo an ninh phi truyền thống và xây dựng một cộng đồng văn minh, giàu mạnh.

5.1. Sự cần thiết của hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm

Để đạt được thành công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư. Đồng thời, cần chia sẻ kinh nghiệm với các địa phương khác để học hỏi những mô hình hiệu quả và tránh những sai lầm.

5.2. Tầm nhìn về một Vân Hồ phát triển và bền vững

Với những nỗ lực không ngừng, Vân Hồ có thể trở thành một huyện miền núi phát triển, với đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, môi trường sống được bảo vệ và cải thiện. Một Vân Hồ phát triển và bền vững sẽ là hình mẫu cho các địa phương khác trong cả nước.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần đảm bảo an ninh phi truyền thống ở huyện vân hồ tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cở sở lý luận về đói nghèo và an ninh phi truyền thống - Chƣơng 2: Thực trạng xóa đói giảm nghèo tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La - Chƣơng 3: Đề xuất chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo nhằm đảm bảo an ninh phi truyền thống cho huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1. Đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo 1. Khái niệm về đói nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều và rất khó định nghĩa. UNDP cho rằng “ Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc” 1.

Theo cách tiếp cận của UNDP thì đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất này có thể còn đƣợc thể hiện qua những nét đặc trƣng của những khu vực mà ngƣời nghèo thƣờng sinh sống. Đó có thể là những nơi thƣờng thiếu điện, nƣớc sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác. Để đánh giá về nghèo khổ đa chiều, UNDP sử dụng chỉ số HPI (Human Poor Index) và chỉ số nghèo khổ tổng hợp (MPI – Mutidimensional Poverty Index).

HPI là chỉ số nhằm cố gắng tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lƣợng cuộc sống con ngƣời vào trong một chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của một cộng đồng. Chỉ số MPI về cơ bản cũng sử dụng các tiêu chí giống HPI nhƣng có hoàn thiện, cụ thể hơn về nội dung và cách tính toán. Các yếu tố này bao gồm 10 thành phần tƣơng ứng 3 phƣơng diện: sức khỏe bao gồm hai thành phần suy dinh dƣỡng và chết yểu; phƣơng diện giáo dục bao gồm hai thành phần là tình trạng không học hết 5 năm và trẻ em không đƣợc đến trƣờng; phƣơng diện chất lƣợng cuộc sống bao gồm 6 thành phần: tình trạng không đƣợc sử dụng điện, nƣớc sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu bẩn và không có phƣơng tiện đi lại tối thiểu. Trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn công nghèo đói năm 2000, WB cho rằng “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng mà còn là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế”.

WB cũng chỉ ra ngƣời nghèo đặc biệt dễ bị tổn thƣơng trƣớc những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thƣờng bị các thể chế của nhà nƣớc và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó. Hội nghị bàn về nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng đã đƣa ra khái niệm về đói nghèo nhƣ sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và 1 “Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu Á và Thái Bình Dƣơng” , UNDP, Trung tâm Vùng Châu Á- Thái Bình Dƣơng, Bangkok, Thái Lan, 2012, trang 4 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Trên thế giới vấn đề đói nghèo cũng đƣợc xem xét ở nhiều góc độ khác nhau nhƣ: nghèo về văn hóa, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế… Dƣới góc độ kinh tế, nghèo cũng đƣợc xem xét với các lát cắt khác nhau nhƣ: nghèo về lƣơng thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong việc bị hạn chế, tiếp cận với nguồn lực phát triển, nghèo trong việc khó tiếp cận với thị trƣờng.

Abapiasen – chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia và sự phát triển cộng đồng. Tóm lại, đói nghèo có thể đƣợc hiểu là sự khốn cùng về vật chất, đƣợc đo lƣờng theo tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đói nghèo thu nhập. Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hƣởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. Tiếp đến nguy cơ dễ bị tổn thƣơng và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào hoàn cảnh đói về thu nhập hoặc sức khỏe.

Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, quyền lực của ngƣời nghèo. Với phát hiện đói nghèo là đa chiều, các khía cạnh đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cho thấy để giải quyết vấn đề đói nghèo cần có một hệ thống các chính sách hoàn chỉnh và đồng bộ và cần hiểu đúng về bản chất và nguyên nhân của đói nghèo Ở Việt Nam, chuẩn nghèo từ 2006 đến 2010 đƣợc áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ –TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho 2006 – 2010, quy định những ngƣời có mức thu nhập sau đƣợc xếp vào nhóm hộ nghèo: - Thu nhập bình quân đầu ngƣời đối với khu vực nông thôn dƣới 200.000 đồng/ngƣời/tháng - Thu nhập bình quân đầu ngƣời đối với khu vực thành thị dƣới 260.000 đồng/ngƣời/tháng Tuy nhiên chuẩn nghèo trên chƣa đánh giá đƣợc đúng thực tế nghèo. Chuẩn nghèo này còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới với ngƣỡng 1 USD/ngƣời/ngày. Do vậy, ngày 30/1/2011 theo đề nghị của Bộ LĐTBXH, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về biệc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.

Cho đến nay, Thủ tƣớng cũng đã ban hành quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 trong đó chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn cận nghèo: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. Ngoài ra còn có cả tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: a) Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin; b) Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hôi cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của ngƣời lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Về việc xác định nhƣ thế nào là ngƣời nghèo, hiện có nhiều phƣơng pháp khác nhau.

Một phƣơng pháp quốc tế để xây dựng các chỉ số nhất quán giữa các năm là so sánh mức chi tiêu hộ gia đình trên đầu ngƣời với ngƣỡng nghèo. Ngƣỡng nghèo đƣợc định nghĩa là chi phí cho một rổ hàng tiêu dùng thực phẩm và phi thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống khỏe mạnh. Trong trƣờng hợp Việt Nam, ngƣỡng nghèo thông dụng là chi phí cho một rổ hàng hóa cung cấp 2.100 đơn vị calo cho một ngƣời trong một ngày. Các chỉ số khác thƣờng đƣợc sử dụng là nghèo lƣơng thực và chỉ số khoảng cách nghèo.

Một hộ gia đình đƣợc coi là nghèo lƣơng thực khi chi tiêu của hộ đó thấp đến nỗi dù họ có chi tất cả tiền cho việc mua lƣơng thực thì cũng không đủ để có 2.100 đơn vị calo mỗi ngày. Bên cạnh đó, là ngay cả các hộ gia đình nghèo nhất thì họ vẫn phải có nhu cầu đối với các khoản chi phí lƣơng thực khác. Chỉ số khoảng cách nghèo là “mức chênh lệch” trung bình giữa chi tiêu của những ngƣời nghèo và mức chi tiêu tại ngƣỡng nghèo. Thƣớc đo này đƣợc sử dụng để mô tả mức độ nghèo là nông hay sâu.

Nguyên nhân của đói nghèo Nguyên nhân của sự đói nghèo rất đa dạng. Tuy nhiên, trên thực tế không có một nguyên nhân nào biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói nghèo đặc biệt là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó cũng không phải là nguyên nhân thuần tuý về mặt kinh tế hoặc do thiên tai. Ở đây nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế -xã hội.

 Lịch sử Nhiều ngƣời trong số những quốc gia nghèo nhất trên thế giới đều là thuộc địa cũ, khu vực và vùng lãnh thổ nô lệ xuất khẩu từ đó các nguồn lực đã đƣợc chiết xuất có hệ thống vì lợi ích của các nƣớc thuộc địa. Mặc dù có những ngoại lệ đáng chú ý (Úc, Canada và Mỹ là có lẽ nổi bật nhất), đối với hầu hết các cựu thuộc địa, chủ nghĩa thực dân và các di sản của nó đã giúp tạo ra các điều kiện ngăn chặn nhiều ngƣời dân tiếp cận đất đai, vốn, giáo dục và các nguồn lực khác cho phép mọi ngƣời để tự nuôi mình đầy đủ. Trong các quốc gia, nghèo đói là một trong những di sản của một lịch sử khó khăn liên quan đến cuộc chinh phục. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com  Chiến tranh và bất ổn chính trị Cả hai yếu tố này thƣờng đƣợc gắn liền với lịch sử của chủ nghĩa thực dân, nhƣng bất cứ nguyên nhân của chiến tranh và biến động chính trị, nó là rõ ràng rằng sự an toàn, ổn định và an ninh là rất cần thiết cho sự sống và, ngoài ra, sự thịnh vƣợng kinh tế và tăng trƣởng.

Nếu không có những điều cơ bản, tài nguyên thiên nhiên không thể đƣợc khai thác cá nhân hay tập thể, và không có số lƣợng giáo dục, tài năng hay bí quyết công nghệ sẽ cho phép mọi ngƣời làm việc và gặt hái những lợi ích của thành quả lao động của họ. Tƣơng tự nhƣ vậy, pháp luật là cần thiết để bảo vệ quyền lợi, tài sản và các khoản đầu tƣ, và không có sự bảo vệ pháp lý, nông dân, những doanh nhân và chủ doanh nghiệp không thể đầu tƣ một cách an toàn trong nền kinh tế của một quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ