phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cở sở lý luận về đói nghèo và an ninh phi truyền thống - Chƣơng 2: Thực trạng xóa đói giảm nghèo tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La - Chƣơng 3: Đề xuất chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo nhằm đảm bảo an ninh phi truyền thống cho huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1. Đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo 1. Khái niệm về đói nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều và rất khó định nghĩa. UNDP cho rằng “ Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc” 1.
Theo cách tiếp cận của UNDP thì đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất này có thể còn đƣợc thể hiện qua những nét đặc trƣng của những khu vực mà ngƣời nghèo thƣờng sinh sống. Đó có thể là những nơi thƣờng thiếu điện, nƣớc sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác. Để đánh giá về nghèo khổ đa chiều, UNDP sử dụng chỉ số HPI (Human Poor Index) và chỉ số nghèo khổ tổng hợp (MPI – Mutidimensional Poverty Index).
HPI là chỉ số nhằm cố gắng tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lƣợng cuộc sống con ngƣời vào trong một chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của một cộng đồng. Chỉ số MPI về cơ bản cũng sử dụng các tiêu chí giống HPI nhƣng có hoàn thiện, cụ thể hơn về nội dung và cách tính toán. Các yếu tố này bao gồm 10 thành phần tƣơng ứng 3 phƣơng diện: sức khỏe bao gồm hai thành phần suy dinh dƣỡng và chết yểu; phƣơng diện giáo dục bao gồm hai thành phần là tình trạng không học hết 5 năm và trẻ em không đƣợc đến trƣờng; phƣơng diện chất lƣợng cuộc sống bao gồm 6 thành phần: tình trạng không đƣợc sử dụng điện, nƣớc sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu bẩn và không có phƣơng tiện đi lại tối thiểu. Trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn công nghèo đói năm 2000, WB cho rằng “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng mà còn là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế”.
WB cũng chỉ ra ngƣời nghèo đặc biệt dễ bị tổn thƣơng trƣớc những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thƣờng bị các thể chế của nhà nƣớc và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó. Hội nghị bàn về nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng đã đƣa ra khái niệm về đói nghèo nhƣ sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và 1 “Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu Á và Thái Bình Dƣơng” , UNDP, Trung tâm Vùng Châu Á- Thái Bình Dƣơng, Bangkok, Thái Lan, 2012, trang 4 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Trên thế giới vấn đề đói nghèo cũng đƣợc xem xét ở nhiều góc độ khác nhau nhƣ: nghèo về văn hóa, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế… Dƣới góc độ kinh tế, nghèo cũng đƣợc xem xét với các lát cắt khác nhau nhƣ: nghèo về lƣơng thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong việc bị hạn chế, tiếp cận với nguồn lực phát triển, nghèo trong việc khó tiếp cận với thị trƣờng.
Abapiasen – chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia và sự phát triển cộng đồng. Tóm lại, đói nghèo có thể đƣợc hiểu là sự khốn cùng về vật chất, đƣợc đo lƣờng theo tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đói nghèo thu nhập. Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hƣởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. Tiếp đến nguy cơ dễ bị tổn thƣơng và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào hoàn cảnh đói về thu nhập hoặc sức khỏe.
Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, quyền lực của ngƣời nghèo. Với phát hiện đói nghèo là đa chiều, các khía cạnh đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cho thấy để giải quyết vấn đề đói nghèo cần có một hệ thống các chính sách hoàn chỉnh và đồng bộ và cần hiểu đúng về bản chất và nguyên nhân của đói nghèo Ở Việt Nam, chuẩn nghèo từ 2006 đến 2010 đƣợc áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ –TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho 2006 – 2010, quy định những ngƣời có mức thu nhập sau đƣợc xếp vào nhóm hộ nghèo: - Thu nhập bình quân đầu ngƣời đối với khu vực nông thôn dƣới 200.000 đồng/ngƣời/tháng - Thu nhập bình quân đầu ngƣời đối với khu vực thành thị dƣới 260.000 đồng/ngƣời/tháng Tuy nhiên chuẩn nghèo trên chƣa đánh giá đƣợc đúng thực tế nghèo. Chuẩn nghèo này còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới với ngƣỡng 1 USD/ngƣời/ngày. Do vậy, ngày 30/1/2011 theo đề nghị của Bộ LĐTBXH, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về biệc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.
Cho đến nay, Thủ tƣớng cũng đã ban hành quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 trong đó chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn cận nghèo: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. Ngoài ra còn có cả tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: a) Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin; b) Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hôi cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của ngƣời lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Về việc xác định nhƣ thế nào là ngƣời nghèo, hiện có nhiều phƣơng pháp khác nhau.
Một phƣơng pháp quốc tế để xây dựng các chỉ số nhất quán giữa các năm là so sánh mức chi tiêu hộ gia đình trên đầu ngƣời với ngƣỡng nghèo. Ngƣỡng nghèo đƣợc định nghĩa là chi phí cho một rổ hàng tiêu dùng thực phẩm và phi thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống khỏe mạnh. Trong trƣờng hợp Việt Nam, ngƣỡng nghèo thông dụng là chi phí cho một rổ hàng hóa cung cấp 2.100 đơn vị calo cho một ngƣời trong một ngày. Các chỉ số khác thƣờng đƣợc sử dụng là nghèo lƣơng thực và chỉ số khoảng cách nghèo.
Một hộ gia đình đƣợc coi là nghèo lƣơng thực khi chi tiêu của hộ đó thấp đến nỗi dù họ có chi tất cả tiền cho việc mua lƣơng thực thì cũng không đủ để có 2.100 đơn vị calo mỗi ngày. Bên cạnh đó, là ngay cả các hộ gia đình nghèo nhất thì họ vẫn phải có nhu cầu đối với các khoản chi phí lƣơng thực khác. Chỉ số khoảng cách nghèo là “mức chênh lệch” trung bình giữa chi tiêu của những ngƣời nghèo và mức chi tiêu tại ngƣỡng nghèo. Thƣớc đo này đƣợc sử dụng để mô tả mức độ nghèo là nông hay sâu.
Nguyên nhân của đói nghèo Nguyên nhân của sự đói nghèo rất đa dạng. Tuy nhiên, trên thực tế không có một nguyên nhân nào biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói nghèo đặc biệt là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó cũng không phải là nguyên nhân thuần tuý về mặt kinh tế hoặc do thiên tai. Ở đây nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế -xã hội.
Lịch sử Nhiều ngƣời trong số những quốc gia nghèo nhất trên thế giới đều là thuộc địa cũ, khu vực và vùng lãnh thổ nô lệ xuất khẩu từ đó các nguồn lực đã đƣợc chiết xuất có hệ thống vì lợi ích của các nƣớc thuộc địa. Mặc dù có những ngoại lệ đáng chú ý (Úc, Canada và Mỹ là có lẽ nổi bật nhất), đối với hầu hết các cựu thuộc địa, chủ nghĩa thực dân và các di sản của nó đã giúp tạo ra các điều kiện ngăn chặn nhiều ngƣời dân tiếp cận đất đai, vốn, giáo dục và các nguồn lực khác cho phép mọi ngƣời để tự nuôi mình đầy đủ. Trong các quốc gia, nghèo đói là một trong những di sản của một lịch sử khó khăn liên quan đến cuộc chinh phục. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chiến tranh và bất ổn chính trị Cả hai yếu tố này thƣờng đƣợc gắn liền với lịch sử của chủ nghĩa thực dân, nhƣng bất cứ nguyên nhân của chiến tranh và biến động chính trị, nó là rõ ràng rằng sự an toàn, ổn định và an ninh là rất cần thiết cho sự sống và, ngoài ra, sự thịnh vƣợng kinh tế và tăng trƣởng.
Nếu không có những điều cơ bản, tài nguyên thiên nhiên không thể đƣợc khai thác cá nhân hay tập thể, và không có số lƣợng giáo dục, tài năng hay bí quyết công nghệ sẽ cho phép mọi ngƣời làm việc và gặt hái những lợi ích của thành quả lao động của họ. Tƣơng tự nhƣ vậy, pháp luật là cần thiết để bảo vệ quyền lợi, tài sản và các khoản đầu tƣ, và không có sự bảo vệ pháp lý, nông dân, những doanh nhân và chủ doanh nghiệp không thể đầu tƣ một cách an toàn trong nền kinh tế của một quốc gia.