phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn đƣợc cấu tạo thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ trước năm 2001. Chƣơng 2: Công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Nguyên giai đoạn 2001- 2010. Chƣơng 3: Đánh giá việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1: THỰC TRẠNG ĐÓI, NGHÈO Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TRƢỚC NĂM 2001 1.
Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về đói, nghèo Đói nghèo là một hiện tƣợng kinh tế, xã hội mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói ở từng quốc gia có khác nhau. Nhìn chung, mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đƣa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ.
Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia đƣợc xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để ngƣời dân có thể tồn tại đƣợc. Đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm đƣợc những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành. Tại Hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9/1993 khái niệm về nghèo, đói đƣợc xác định nhƣ sau: “ Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương “. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc là khác nhau.
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB) thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỉ ngƣời sống dƣới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Khái niệm nghèo đói có thể chia theo hai cách khác nhau: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Nghèo tuyệt đối đo lƣờng số ngƣời có thu nhập dƣới một ngƣỡng nhất định hoặc số hộ gia đình không có đủ tiền để chu cấp cho những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu nhất định. Chuẩn nghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác định là 1 USD và 2 USD mỗi ngày mỗi ngƣời tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993: - Ngƣỡng 1 USD/ngày/ngƣời thƣờng đƣợc sử dụng cho các nƣớc kém phát triển, chủ yếu là châu Phi.
- Ngƣỡng 2 USD/ngày/ngƣời đƣợc dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình nhƣ Đông Á và Mĩ Latinh. Nghèo tƣơng đối đo lƣờng quy mô theo đó một hộ gia đình đƣợc coi là nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một ngƣỡng thu nhập đƣợc xác định là chuẩn nghèo của xã hội. Chuẩn nghèo tƣơng đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo đƣợc dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình.
Tuy nhiên chuẩn nghèo tƣơng đối theo cách đo nhƣ vậy trên thực tế phản ánh rất ít về mức sống của con ngƣời do khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỉ lệ ngƣời nghèo vẫn không đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi. Vì vậy, trong ngƣỡng nghèo tƣơng đối có pha trộn cả vấn đề phân phối thu nhập. Trên thực tế không có sự phân định rõ ràng giữa nghèo và giàu nên ngƣỡng nguy cơ nghèo cũng hay đƣợc dùng thay cho ngƣỡng nghèo tƣơng đối. Theo quan niệm của Đảng và Nhà nƣớc ta, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phƣơng diện.
8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những bộ phận dân cƣ hằng năm đứt bữa, thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng; phải đi vay và không có khả năng trả nợ. Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cƣ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. Hộ đói là hộ cơm không đủ no, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị.
Đói, nghèo ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất. Đói, nghèo đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là trở lực lớn nhất đối với sự phát triển. Hộ nghèo: là những hộ thiếu ăn nhƣng không đứt bữa, không có khả năng phát triển sản xuất. Theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trƣởng Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội, chuẩn nghèo giai đoạn 2001- 2005 đƣợc quy định cho mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ cho từng vùng nhƣ sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/ngƣời/ tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/ngƣời/tháng. + Vùng thành thị: 150.000 đồng/ngƣời/tháng. Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới mức quy định nêu trên đƣợc xác nhận là hộ nghèo. Chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian, không phải là bất biến.
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội, địa phƣơng nào có đủ điều kiện sau đây có 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ thể nâng chuẩn nghèo lên để phù hợp với thực tế của địa phƣơng đó: + Thu nhập bình quân đầu ngƣời cao hơn thu nhập bình quân của cả nƣớc. + Có tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn tỉ lệ hộ nghèo trung bình của cả nƣớc. + Tự cân đối đƣợc ngân sách và tự giải quyết đƣợc các chính sách đói nghèo theo chuẩn nâng lên. Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002 của Bộ trƣởng Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005, xã nghèo là xã có: + Tỉ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
+ Chƣa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (Bao gồm đƣờng giao thông, trƣờng học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nƣớc sạch, chợ). Cụ thể là: Dƣới 30% số hộ sử dụng nƣớc sạch. Dƣới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt. Chƣa có đƣờng ô tô đến trung tâm xã, hoặc ô tô không đi lại đƣợc cả năm.
Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ đáp ứng đƣợc dƣới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranh tre, nứa, lá. Chƣa có trạm y tế xã, hoặc có nhƣng là nhà tạm. Chƣa có chợ, hoặc chợ tạm bợ. Hộ vƣợt nghèo hay hộ thoát nghèo là những hộ mà sau một quá trình thực hiện chƣơng trình xoá đói, giảm nghèo, cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói.
Hiện nay, một số địa phƣơng có sử dụng khái 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ niệm hộ thoát (hoặc vƣợt) đói và thoát nghèo. Hộ thoát nghèo đƣơng nhiên không còn là hộ đói. Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian là hiệu số giữa tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Nhƣ vậy, giảm số hộ đói nghèo khác với khái niệm số hộ vƣợt nghèo và thoát nghèo.
Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kì nhƣng đến cuối kì vƣợt ra khỏi ngƣỡng nghèo. Trong khi đó, số hộ nghèo giảm đi trong kì chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lƣợng hộ nghèo, chƣa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chƣơng trình. Hộ tái nghèo là hộ vốn dĩ trƣớc đây thuộc hộ nghèo và đã vƣợt nghèo nhƣng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo. Ý nghĩa của khái niệm này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá đói giảm nghèo.
Thực tế cho thấy, hầu hết các hộ tái nghèo chính là do gặp thiên tai bất khả kháng. Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo là những hộ ở đầu kì không thuộc danh sách đói nghèo nhƣng đến cuối kì lại là hộ nghèo. Nhƣ vậy, hộ mới bƣớc vào danh sách nghèo bao gồm những hộ nhƣ sau: Hộ nghèo chuyển tiếp từ nơi khác đến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lí do nào đó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tái nghèo. Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 1.
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách Thành phố Thái Nguyên 25 km, phía bắc giáp huyện Định Hoá; phía nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên; phía đông giáp huyện Phú Lƣơng; phía tây bắc và đông nam giáp các tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ. 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Huyện Đại Từ có 31 đơn vị hành chính gồm 29 xã và 2 thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.618 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,5%, đất lâm nghiệp chiếm 42,5%, còn lại là đất khác và sông, suối. Tổng diện tích tự nhiên 57.
Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất lâm nghiệp chiếm 48,43%; đất chuyên dùng 10,7%; đất thổ cƣ 3,4%. Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chƣa sử dụng. Do vị trí địa lí của huyện, Đại Từ đƣợc bao bọc xung quanh bởi dãy núi: phía tây và tây nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m; phía bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa; phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300m; phía nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam.