Công cuộc xóa đói giảm nghèo huyện Đại Từ, Thái Nguyên (2001-2010)

Xóa đói giảm nghèo ở Đại Từ, Thái Nguyên (2001-2010): Đánh giá toàn diện về thành tựu, thách thức và bài học kinh nghiệm trong giai đoạn quan trọng này.

Chuyên ngành

Khoa học Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

XÁC NHẬN CỦA TRƢỞNG KHOA CHUYÊN MÔN VÀ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC

MỤC LỤC

Lí do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu

Phƣơng pháp nghiên cứu

Đóng góp của Luận văn

Bố cục của Luận văn

1. CHƢƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐÓI, NGHÈO Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TRƢỚC NĂM 2001

1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về đói, nghèo

1.2. Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

1.2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

1.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.4. Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ

1.3. Các nguyên nhân dẫn đến đói, nghèo

2. CHƢƠNG 2: CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐẠI TỪ (GIAI ĐOẠN 2001 - 2010)

2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về xóa đói giảm nghèo và sự vận dụng của địa phƣơng

2.2. Huyện Đại Từ triển khai các chính sách, các chƣơng trình, đề án xoá đói, giảm nghèo

2.2.1. Kế hoạch thực hiện chương trình

2.2.2. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo

3. CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐẠI TỪ

3.1. Hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế

3.2. Giải pháp đẩy mạnh thực hiện xoá đói, giảm nghèo bền vững ở huyện Đại Từ

3.2.1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và ngƣời dân về xóa đói giảm nghèo

3.2.2. Tạo điều kiện cho ngƣời nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập

3.2.3. Tạo cơ hội để ngƣời nghèo, hộ nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

3.2.4. Huy động nguồn lực

3.2.5. Tăng cƣờng hoạt động giám sát, đánh giá công tác giảm nghèo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

Đóng góp của Luận văn

Bố cục của Luận văn

Tóm tắt

I. Bức tranh toàn cảnh xóa đói giảm nghèo ở Đại Từ Thái Nguyên

Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nỗ lực của người dân. Trước giai đoạn 2001, Đại Từ đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao. Dựa trên quan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng và Nhà nước, huyện đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, chương trình hành động cụ thể nhằm cải thiện đời sống người dân, hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững. Quá trình này không chỉ tập trung vào hỗ trợ kinh tế mà còn chú trọng nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đảm bảo an sinh xã hội huyện Đại Từ. Các chính sách được xây dựng dựa trên thực tiễn địa phương, khai thác tiềm năng sẵn có như đất đai, tài nguyên và đặc biệt là con người, nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản và lâu dài.

1.1. Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Đại Từ trước năm 2001

Trước năm 2001, Đại Từ là một huyện miền núi với nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp. Theo tài liệu nghiên cứu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, đặc biệt là hệ thống giao thông ở các xã vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ hộ nghèo huyện Đại Từ ở mức cao, bình quân gần 32%, một số xã như Quân Chu, Đức Lương tỷ lệ này lên đến gần 60%. Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn do sản xuất manh mún, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật. Các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục chưa phát triển đồng đều, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và cơ hội phát triển của người dân. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải có những chính sách đột phá để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Đại Từ.

1.2. Quan điểm chỉ đạo về công tác giảm nghèo bền vững của địa phương

Vận dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước, Huyện ủy và UBND huyện Đại Từ đã xác định xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện các khóa XX, XXI đã nhấn mạnh việc phải thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là phát huy nội lực, khuyến khích ý chí tự vươn lên của người nghèo, kết hợp với sự hỗ trợ có mục tiêu của Nhà nước. Các chương trình, dự án được triển khai theo hướng trao "cần câu" thay vì cho "con cá", tập trung vào việc tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập. Huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo chương trình từ huyện đến cơ sở, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban ngành, đoàn thể, đảm bảo các chính sách hỗ trợ hộ nghèo được triển khai một cách đồng bộ, minh bạch và hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

II. Những thách thức cốt lõi trong công cuộc giảm nghèo ở Đại Từ

Mặc dù có nhiều nỗ lực, công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Đại Từ vẫn đối mặt với không ít thách thức. Các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo mang tính đa chiều và phức tạp, không chỉ do thiếu vốn hay đất sản xuất mà còn liên quan đến trình độ dân trí, tập quán canh tác lạc hậu và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Việc xác định đúng nguyên nhân gốc rễ là yếu tố tiên quyết để xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả. Đặc biệt, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng khó khăn luôn là một bài toán cần lời giải bền vững. Bên cạnh đó, hạn chế về cơ sở hạ tầng đã tạo ra rào cản lớn trong việc kết nối thị trường, tiếp cận dịch vụ công, từ đó kìm hãm sự phát triển chung và nỗ lực thoát nghèo bền vững của người dân.

2.1. Phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đói nghèo

Theo kết quả khảo sát được trích dẫn trong luận văn "Công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ" của tác giả Âu Thị Huế, có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Trong đó, thiếu vốn đầu tư sản xuất là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm tới 60,54% số hộ nghèo. Tiếp theo là thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn (25,23%), thiếu đất canh tác (18,24%), và gia đình đông con, thiếu lao động (12,4%). Đáng chú ý, có tới 60,5% số hộ nghèo chịu tác động từ hai nguyên nhân trở lên, tạo thành một vòng luẩn quẩn khó thoát. Ngoài ra, các yếu tố như thiên tai, bệnh tật, và một bộ phận người dân còn có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước cũng là những rào cản lớn. Việc hiểu rõ những nguyên nhân này là cơ sở để thiết kế các chính sách hỗ trợ hộ nghèo một cách trúng đích.

2.2. Thực trạng khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Đại Từ, tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số chiếm tới 32,94% tổng số hộ nghèo của huyện (số liệu năm 2001). Đồng bào dân tộc thiểu số thường sinh sống tập trung ở các xã vùng cao, vùng sâu, nơi có địa hình chia cắt, đi lại khó khăn. Điều này khiến họ khó tiếp cận các nguồn lực phát triển như tín dụng, khoa học kỹ thuật và thị trường. Một số phong tục, tập quán canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung tự cấp vẫn còn tồn tại, làm cho năng suất lao động thấp. Việc triển khai các chương trình hỗ trợ cho nhóm đối tượng này cũng gặp nhiều thách thức do rào cản về ngôn ngữ và văn hóa. Cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng nhằm đảm bảo công bằng và an sinh xã hội.

III. Giải pháp tín dụng và an sinh xã hội cho hộ nghèo tại Đại Từ

Để giải quyết bài toán đói nghèo, huyện Đại Từ đã tập trung vào hai mũi nhọn chính: cung cấp nguồn lực tài chính và đảm bảo mạng lưới an sinh xã hội. Chính sách tín dụng ưu đãi được xem là đòn bẩy quan trọng, giúp các hộ nghèo có vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Song song đó, việc đảm bảo người nghèo được tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo giữa các thế hệ. Các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được lồng ghép và triển khai hiệu quả, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp người dân từng bước cải thiện cuộc sống và vươn lên thoát nghèo bền vững.

3.1. Hiệu quả từ chính sách vay vốn ưu đãi cho hộ cận nghèo

Chính sách tín dụng ưu đãi là một trong những giải pháp trọng tâm. Ngân hàng Chính sách xã hội Đại Từ đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn vốn cho các hộ nghèo và cận nghèo. Phương thức cho vay tín chấp thông qua các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận vốn với thủ tục đơn giản. Giai đoạn 2001-2005, tổng dư nợ cho vay hộ nghèo đã đạt những con số ấn tượng, giúp hàng nghìn hộ có điều kiện mua sắm vật tư, cây con giống, phát triển sản xuất. Việc vay vốn ưu đãi cho hộ cận nghèo không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt về tài chính mà còn thúc đẩy tinh thần tự chủ, dám nghĩ dám làm, tạo động lực để người dân đầu tư vào các mô hình kinh tế hiệu quả.

3.2. Đảm bảo quyền lợi y tế và giáo dục cho người nghèo

Công tác an sinh xã hội huyện Đại Từ được đặc biệt quan tâm thông qua các chính sách hỗ trợ về y tế và giáo dục. Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg, huyện đã triển khai khám chữa bệnh và cấp phát thuốc miễn phí cho hàng chục nghìn lượt người dân ở các xã đặc biệt khó khăn. Trong lĩnh vực giáo dục, giai đoạn 2001-2005, đã có 6.512 lượt học sinh là con em hộ nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp. Những chính sách hỗ trợ hộ nghèo này đã giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình, tạo điều kiện cho trẻ em được đến trường, góp phần nâng cao dân trí và ngăn chặn nguy cơ tái nghèo do chi phí khám chữa bệnh hay gánh nặng học tập.

IV. Phương pháp phát triển sản xuất nâng cao thu nhập ở Đại Từ

Bên cạnh hỗ trợ tài chính, huyện Đại Từ xác định việc nâng cao năng lực sản xuất cho người dân là giải pháp căn cơ để thoát nghèo bền vững. Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm được triển khai sâu rộng, tập trung vào việc chuyển giao khoa học kỹ thuật và xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được khuyến khích mạnh mẽ, giúp người dân khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai, đặc biệt là phát triển vùng chè đặc sản. Đồng thời, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn được chú trọng, nhằm tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm phi nông nghiệp, đa dạng hóa nguồn thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

4.1. Hỗ trợ sản xuất cho người dân qua các dự án khuyến nông

Dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ sản xuất cho người dân. Giai đoạn 2001-2005, huyện đã tổ chức 605 lớp tập huấn kỹ thuật cho hơn 25.000 lượt người tham gia. Các cán bộ khuyến nông đã trực tiếp xuống cơ sở, hướng dẫn người dân áp dụng các giống mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến. Nhiều mô hình trình diễn như trồng lúa lai, ngô lai, chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được xây dựng và nhân rộng. Nhờ đó, năng suất cây trồng tăng lên đáng kể, ví dụ năng suất lúa tăng từ 49,7 tạ/ha (2002) lên 52,5 tạ/ha (2005). Hoạt động này đã trang bị cho người nông dân kiến thức cần thiết để tự chủ sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.

4.2. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và phát triển vùng chè

Đại Từ đã đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thế mạnh của địa phương. Đặc biệt, cây chè được xác định là cây trồng chủ lực. Huyện đã có chính sách khuyến khích người dân cải tạo nương chè cũ, trồng mới các giống chè lai có năng suất và chất lượng cao. Việc phát triển vùng chè đặc sản không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn tạo ra thương hiệu cho nông sản địa phương. Cùng với cây chè, các loại cây trồng và vật nuôi khác có giá trị kinh tế cũng được đưa vào sản xuất, giúp đa dạng hóa sản phẩm và giảm thiểu rủi ro cho người nông dân, góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập và giảm nghèo.

4.3. Nâng cao chất lượng lao động qua chương trình dạy nghề

Chương trình giải quyết việc làm và dạy nghề cho lao động nông thôn đã đạt được những kết quả tích cực. Trung tâm dạy nghề của huyện phối hợp với các đơn vị mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động và điều kiện của người dân. Trong 5 năm (2001-2005), huyện đã tạo việc làm mới cho trên 7.000 lao động. Công tác xuất khẩu lao động cũng được đẩy mạnh, giúp nhiều gia đình có nguồn thu nhập cao và ổn định. Việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ giúp người dân có thêm việc làm mà còn thay đổi tư duy sản xuất, từ đó đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên và phát triển kinh tế bền vững.

V. Đánh giá kết quả giảm nghèo ở Đại Từ và những bài học lớn

Sau một thập kỷ nỗ lực, công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Đại Từ đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo huyện Đại Từ đã giảm đáng kể, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt. Các chương trình, chính sách đã phát huy hiệu quả, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đại Từ. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng bộc lộ một số hạn chế và tồn tại. Việc tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu là cơ sở quan trọng để huyện tiếp tục hoàn thiện chính sách và triển khai các giải pháp hiệu quả hơn trong giai đoạn tiếp theo, hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững và không để ai bị bỏ lại phía sau.

5.1. Phân tích sự thay đổi tỷ lệ hộ nghèo huyện Đại Từ

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, tỷ lệ hộ nghèo huyện Đại Từ đã giảm một cách ấn tượng trong giai đoạn 2001-2010. Các số liệu thống kê cho thấy sự chuyển biến tích cực qua từng năm, minh chứng cho hiệu quả của các chính sách đã được áp dụng. Tốc độ giảm nghèo nhanh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công các mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Sự thay đổi này không chỉ thể hiện ở con số thống kê mà còn phản ánh qua sự cải thiện rõ rệt về nhà ở, điều kiện sinh hoạt và khả năng chi tiêu của các hộ gia đình. Đây là thành quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền và sự nỗ lực vươn lên của chính người dân.

5.2. Tác động của chương trình đến phát triển kinh tế xã hội

Chương trình xóa đói giảm nghèo đã tạo ra một cú hích lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đại Từ. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông qua Chương trình 135 đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đặc biệt là hệ thống đường giao thông, trường học, trạm y tế. Kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh mẽ nhờ các chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. An sinh xã hội được đảm bảo, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thành công của chương trình đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên.

5.3. Nhìn lại những hạn chế và kinh nghiệm thực tiễn

Bên cạnh thành tựu, công tác giảm nghèo vẫn còn một số hạn chế. Một số hộ sau khi thoát nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao do thiên tai, dịch bệnh hoặc rủi ro trong sản xuất. Việc lồng ghép các chương trình, dự án đôi khi còn chồng chéo, hiệu quả chưa như mong đợi. Năng lực quản lý, giám sát của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế. Từ thực tiễn, có thể rút ra bài học kinh nghiệm là cần nâng cao hơn nữa nhận thức và ý chí tự lực của người dân; các chính sách hỗ trợ hộ nghèo cần được thiết kế linh hoạt, sát với thực tế; đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả, hướng đến mục tiêu thoát nghèo bền vững.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn đƣợc cấu tạo thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ trước năm 2001. Chƣơng 2: Công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Nguyên giai đoạn 2001- 2010. Chƣơng 3: Đánh giá việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1: THỰC TRẠNG ĐÓI, NGHÈO Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TRƢỚC NĂM 2001 1.

Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về đói, nghèo Đói nghèo là một hiện tƣợng kinh tế, xã hội mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói ở từng quốc gia có khác nhau. Nhìn chung, mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đƣa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ.

Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia đƣợc xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để ngƣời dân có thể tồn tại đƣợc. Đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm đƣợc những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành. Tại Hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9/1993 khái niệm về nghèo, đói đƣợc xác định nhƣ sau: “ Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương “. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc là khác nhau.

Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB) thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỉ ngƣời sống dƣới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Khái niệm nghèo đói có thể chia theo hai cách khác nhau: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Nghèo tuyệt đối đo lƣờng số ngƣời có thu nhập dƣới một ngƣỡng nhất định hoặc số hộ gia đình không có đủ tiền để chu cấp cho những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu nhất định. Chuẩn nghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác định là 1 USD và 2 USD mỗi ngày mỗi ngƣời tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993: - Ngƣỡng 1 USD/ngày/ngƣời thƣờng đƣợc sử dụng cho các nƣớc kém phát triển, chủ yếu là châu Phi.

- Ngƣỡng 2 USD/ngày/ngƣời đƣợc dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình nhƣ Đông Á và Mĩ Latinh. Nghèo tƣơng đối đo lƣờng quy mô theo đó một hộ gia đình đƣợc coi là nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một ngƣỡng thu nhập đƣợc xác định là chuẩn nghèo của xã hội. Chuẩn nghèo tƣơng đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo đƣợc dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình.

Tuy nhiên chuẩn nghèo tƣơng đối theo cách đo nhƣ vậy trên thực tế phản ánh rất ít về mức sống của con ngƣời do khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỉ lệ ngƣời nghèo vẫn không đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi. Vì vậy, trong ngƣỡng nghèo tƣơng đối có pha trộn cả vấn đề phân phối thu nhập. Trên thực tế không có sự phân định rõ ràng giữa nghèo và giàu nên ngƣỡng nguy cơ nghèo cũng hay đƣợc dùng thay cho ngƣỡng nghèo tƣơng đối. Theo quan niệm của Đảng và Nhà nƣớc ta, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phƣơng diện.

8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những bộ phận dân cƣ hằng năm đứt bữa, thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng; phải đi vay và không có khả năng trả nợ. Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cƣ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. Hộ đói là hộ cơm không đủ no, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị.

Đói, nghèo ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất. Đói, nghèo đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là trở lực lớn nhất đối với sự phát triển. Hộ nghèo: là những hộ thiếu ăn nhƣng không đứt bữa, không có khả năng phát triển sản xuất. Theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trƣởng Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội, chuẩn nghèo giai đoạn 2001- 2005 đƣợc quy định cho mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ cho từng vùng nhƣ sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/ngƣời/ tháng.

+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/ngƣời/tháng. + Vùng thành thị: 150.000 đồng/ngƣời/tháng. Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới mức quy định nêu trên đƣợc xác nhận là hộ nghèo. Chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian, không phải là bất biến.

Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội, địa phƣơng nào có đủ điều kiện sau đây có 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ thể nâng chuẩn nghèo lên để phù hợp với thực tế của địa phƣơng đó: + Thu nhập bình quân đầu ngƣời cao hơn thu nhập bình quân của cả nƣớc. + Có tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn tỉ lệ hộ nghèo trung bình của cả nƣớc. + Tự cân đối đƣợc ngân sách và tự giải quyết đƣợc các chính sách đói nghèo theo chuẩn nâng lên. Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002 của Bộ trƣởng Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005, xã nghèo là xã có: + Tỉ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.

+ Chƣa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (Bao gồm đƣờng giao thông, trƣờng học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nƣớc sạch, chợ). Cụ thể là: Dƣới 30% số hộ sử dụng nƣớc sạch. Dƣới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt. Chƣa có đƣờng ô tô đến trung tâm xã, hoặc ô tô không đi lại đƣợc cả năm.

Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ đáp ứng đƣợc dƣới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranh tre, nứa, lá. Chƣa có trạm y tế xã, hoặc có nhƣng là nhà tạm. Chƣa có chợ, hoặc chợ tạm bợ. Hộ vƣợt nghèo hay hộ thoát nghèo là những hộ mà sau một quá trình thực hiện chƣơng trình xoá đói, giảm nghèo, cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói.

Hiện nay, một số địa phƣơng có sử dụng khái 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ niệm hộ thoát (hoặc vƣợt) đói và thoát nghèo. Hộ thoát nghèo đƣơng nhiên không còn là hộ đói. Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian là hiệu số giữa tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Nhƣ vậy, giảm số hộ đói nghèo khác với khái niệm số hộ vƣợt nghèo và thoát nghèo.

Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kì nhƣng đến cuối kì vƣợt ra khỏi ngƣỡng nghèo. Trong khi đó, số hộ nghèo giảm đi trong kì chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lƣợng hộ nghèo, chƣa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chƣơng trình. Hộ tái nghèo là hộ vốn dĩ trƣớc đây thuộc hộ nghèo và đã vƣợt nghèo nhƣng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo. Ý nghĩa của khái niệm này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá đói giảm nghèo.

Thực tế cho thấy, hầu hết các hộ tái nghèo chính là do gặp thiên tai bất khả kháng. Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo là những hộ ở đầu kì không thuộc danh sách đói nghèo nhƣng đến cuối kì lại là hộ nghèo. Nhƣ vậy, hộ mới bƣớc vào danh sách nghèo bao gồm những hộ nhƣ sau: Hộ nghèo chuyển tiếp từ nơi khác đến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lí do nào đó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tái nghèo. Thực trạng đói, nghèo ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 1.

Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách Thành phố Thái Nguyên 25 km, phía bắc giáp huyện Định Hoá; phía nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên; phía đông giáp huyện Phú Lƣơng; phía tây bắc và đông nam giáp các tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ. 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Huyện Đại Từ có 31 đơn vị hành chính gồm 29 xã và 2 thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.618 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,5%, đất lâm nghiệp chiếm 42,5%, còn lại là đất khác và sông, suối. Tổng diện tích tự nhiên 57.

Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất lâm nghiệp chiếm 48,43%; đất chuyên dùng 10,7%; đất thổ cƣ 3,4%. Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chƣa sử dụng. Do vị trí địa lí của huyện, Đại Từ đƣợc bao bọc xung quanh bởi dãy núi: phía tây và tây nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m; phía bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa; phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300m; phía nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ