phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Lao động cƣỡng bức và xóa bỏ lao động cƣỡng bức trong các công ƣớc quốc tế. Chƣơng 2: Thực tiễn nội luật hóa các quy định về xóa bỏ lao động cƣỡng bức trong các công ƣớc quốc tế vào pháp luật lao động Việt Nam. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về cƣỡng bức và nâng cao hiệu quả xóa bỏ lao động cƣỡng bức tại Việt Nam. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LAO ĐỘNG CƢỠNG BỨC VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƢỠNG BỨC TRONG CÁC CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ 1.
Khái quát chung về xóa bỏ lao động cƣỡng bức và sự cần thiết xóa bỏ lao động cƣỡng bức 1. Nguồn gốc của lao động cưỡng bức LĐCB có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ xã hội chiếm hữu nô lệ. Nô lệ là những lao động bần cùng trong xã hội. Họ bị xã hội và pháp luật đặt trong tình trạng “vô quyền”, đƣợc coi nhƣ những công cụ lao động biết nói, một loại tài sản mà giới chủ đồn điền có thể sở hữu và tự do mua bán, trao đổi.
Họ bị ép buộc làm việc quần quật trên các đồn điền, công xƣởng, bị đánh đập, thậm chí bị giết nếu không thực hiện các công việc mà chủ đồn điền yêu cầu. LĐCB kiểu mới với các hành vi tƣơng tự nhƣ nô lệ đã ngày càng trở thành một vấn đề rõ ràng tại một châu lục có lịch sử gắn với chế độ lao động nô lệ nhƣ ở châu Phi hay Brazil và tại đây cũng có những bản báo cáo nói về các mô hình phân biệt đối xử với những ngƣời có nguồn gốc nô lệ [34, tr. Cùng với sự phát triển của xã hội, khi mà cộng đồng ý thức đƣợc rằng con ngƣời sinh ra có những quyền tự do, độc lập và quyền đó là bất khả xâm phạm, luật pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia đều cấm mọi hình thức chiếm hữu, buôn bán và sử dụng nô lệ. Việc ép buộc một ngƣời phải làm việc ngoài sự tự nguyện của họ cho ngƣời khác đƣợc coi là vi phạm quyền cơ bản của con ngƣời.
Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà không phải lúc nào sự tự do và các quyền cơ bản ấy cũng đƣợc thực thi. Ngay ở thời kỳ đƣơng đại, trong xu thế dân chủ và công bằng, tình trạng LĐCB vẫn còn tồn tại và hơn thế nữa có xu hƣớng gia tăng. Một số NSDLĐ với mục đích tối đa hóa lợi nhuận đã không ngần 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngại sử dụng LĐCB. Điều này không chỉ diễn ra ở các nƣớc nghèo, kém phát triển mà diễn ra ngay ở các quốc gia phát triển.
Đói nghèo và khoảng cách giàu - nghèo quá lớn cũng là nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa đẩy không ít NLĐ rơi vào hoàn cảnh phải chấp nhận sự áp đặt công việc và điều kiện làm việc tồi tệ từ phía NSDLĐ để duy trì sự tồn tại của mình. Đôi khi ngƣời ta tranh luận rằng nghèo đói là nguồn gốc cơ bản của tình trạng LĐCB và giải pháp duy nhất để có thể khắc phục vấn đề này là xóa bỏ một cách toàn diện tình trạng đói nghèo. Tuy nhiên ngƣợc lại, nghèo đói cũng có thể là một hậu quả trực tiếp của LĐCB. “Không còn nghi ngờ gì nữa, nạn nhân của LĐCB thuộc số 522 triệu ngƣời nghèo ở Nam Á” [34, tr.35] LĐCB ngày nay cũng có thể bắt nguồn từ nạn buôn bán ngƣời.
Buôn bán ngƣời nhằm mục đích bóc lột sức lao động của nạn nhân chính là một trong những hình thức LĐCB phổ biến ngày nay, gắn với xu hƣớng di cƣ của NLĐ và quá trình toàn cầu hóa. Cùng với nạn buôn bán ngƣời, trong một vài trƣờng hợp, sự tồn tại dai dẳng của tình trạng LĐCB ngày nay có thể là do hậu quả của những mô hình phân biệt đối xử kéo dài đối với những dân tộc thiểu số và đẳng cấp trong xã hội. Châu Á là một điển hình về LĐCB nảy sinh bắt nguồn từ sự phân chia đẳng cấp và các bộ tộc (nhƣ ở Ấn Độ), hay sự phân biệt đối xử về dân tộc, về tôn giáo giữa các bộ lạc bản xứ (nhƣ ở miền Tây và trong số cộng đồng phi hồi giáo ở Nepan) [9]. Khái niệm lao động cưỡng bức Thoát khỏi tình trạng nô lệ, nô dịch, lao động ép buộc và các dạng lao động bắt buộc là mục đích nhân văn của xã hội hiện đại, hƣớng tới bảo vệ các quyền tự do cơ bản và đƣơng nhiên của con ngƣời.
Theo cách hiểu chung nhất, LĐCB hay lao động cƣỡng bách là một hình thức bắt buộc, áp lực ngƣời khác làm việc trái với ý muốn của họ, trong những điều kiện tồi tệ, hoặc trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình trạng bị giam lỏng. LĐCB vừa là một thuật ngữ pháp luật vừa là một hiện tƣợng kinh tế. Việc "tôn trọng, thúc đẩy và đảm bảo" nguyên tắc xoá bỏ tất cả các dạng của LĐCB sẽ là bất khả thi nếu nhƣ chúng ta không có một cách hiểu đúng về cụm từ LĐCB [55, tr. Điều 1, Công ƣớc số 29 của ILO định nghĩa “LĐCB là tất cả các công việc hay dịch vụ do một người bất kỳ thực hiện dưới sự đe dọa bằng hình phạt và người phải thực hiện công việc hay dịch vụ đó không tự nguyện làm”.
Có 3 thành tố cấu thành nên khái niệm LĐCB, đó là: “Công việc hoặc dịch vụ”: Về công việc sử dụng LĐCB theo Công ƣớc số 29 không chỉ những việc làm hợp pháp trong hợp đồng lao động mà có thể là công việc bất hợp pháp, không liên quan đến quan hệ lao động trừ trƣờng hợp đó là nghĩa vụ đƣợc áp đặt phải trải qua trong chƣơng trình giáo dục bắt buộc hoặc chƣơng trình đào tạo nghề bắt buộc đƣợc đề cập tới trong các ngoại lệ của LĐCB. “Sự đe dọa bằng hình phạt”: Theo công ƣớc số 29 thì đây là hậu quả mà ngƣời bị cƣỡng bức lao động hoặc nhân thân của họ sẽ phải chịu khi ngƣời bị cƣỡng bức lao động không thực hiện công việc đƣợc yêu cầu. Trên thực tế, hành vi đe dọa về hậu quả xảy ra khi ngƣời bị cƣỡng bức lao động khi không thực hiện công việc là rất đa dạng và phong phú. Hình phạt đó không nhất thiết dƣới hình thức là chế tài hình sự, đó có thể là việc bạo lực về thể chất nhƣ sử dụng vũ lực, bắt giữ ngƣời bị cƣỡng bức lao động và thân nhân của họ.
Nhƣng cƣỡng bức lao động cũng có thể biểu hiện dƣới các hành vi tinh vi hơn nhƣ mất đi một số quyền trong quan hệ lao động nhƣ không cho NLĐ hƣởng trợ cấp hay đe dọa tiết lộ bí mật đời tƣ của ngƣời bị cƣỡng bức lao động và nhân thân của họ. Hình phạt khác có thể có tính chất tài chính, bao gồm cả trừng phạt kinh tế liên quan đến các khoản nợ, không thanh toán tiền lƣơng, hoặc mất tiền lƣơng đi kèm với các mối đe dọa sa thải nếu công 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân từ chối làm thêm giờ vƣợt ra ngoài phạm vi hợp đồng của họ hoặc của pháp luật quốc gia. NSDLĐ trong một số trƣờng hợp sẽ yêu cầu giữ các giấy tờ tuỳ thân của NLĐ, và có thể sử dụng điều này nhƣ một mối đe dọa để cƣỡng bức lao động. “Không tự nguyện thực hiện”: có nghĩa là NLĐ không có sự đồng ý làm việc, không sẵn sàng làm việc.
Điều này cho thấy quyền của NLĐ trong tự do lựa chọn việc làm, quyền tự do rời khỏi việc làm của họ không đƣợc thực hiện. Khái niệm LĐCB áp dụng cho mọi độ tuổi bao gồm ngƣời lớn và trẻ em, có nghĩa trong mọi trƣờng hợp Công ƣớc số 29 của ILO đều đƣợc áp dụng. Tuy nhiên, Công ƣớc số 29 của ILO không định nghĩa cụ thể khái niệm “trẻ em” khi xem xét vấn đề “LĐCB”. Chỉ có Công ƣớc số 182 về những điều kiện lao động tồi tệ nhất đối với trẻ em 1999 của ILO đƣa ra định nghĩa “trẻ em” là những ngƣời dƣới 18 tuổi [30, Điều 2].
Tuy nhiên, Công ƣớc số 182 ngoài việc đƣa ra một khái niệm rất rõ ràng về điều kiện lao động tồi tệ nhất bao gồm việc “tuyển lựa một cách cưỡng bức hoặc bắt buộc trẻ em để tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang” thì không đƣa ra thêm bất kì một giải thích nào khác về những yếu tố cấu thành “LĐCB đối với trẻ em” nên trong trƣờng hợp cần tìm hiểu về “LĐCB đối với trẻ em” là nhƣ thế nào thì Công ƣớc số 29 của ILO sẽ đƣợc dẫn chiếu và áp dụng. Đặc điểm lao động cưỡng bức Trên cơ sở khái niệm LĐCB của ILO, LĐCB có những đặc điểm cơ bản sau: a) LĐCB là tình trạng một người bị người khác ép buộc thực hiện công việc hoặc dịch vụ Yếu tố “ép buộc” trái pháp luật thực hiện công việc hoặc dịch vụ và yếu tố “không tự nguyện” của NLĐ là hai yếu tố cốt lõi thuộc về bản chất 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của LĐCB. Hai yếu tố này trở thành những dấu hiệu không thể thiếu của LĐCB. NLĐ ở đây không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo sự ép buộc phải thực hiện công việc.
Yếu tố ép buộc làm một hoặc nhiều công việc hoặc dịch vụ phải xuất phát từ ngƣời khác, từ một cá nhân, một tổ chức hoặc một nhóm ngƣời cụ thể. Tuy nhiên, chƣa thể xác định một ngƣời rơi vào tình trạng LĐCB nếu họ buộc phải thực hiện công việc do hoàn cảnh kinh tế, xã hội khó khăn hoặc do điều kiện bản thân khiến họ không thể làm một công việc khác. Trƣờng hợp đối tƣợng khác lợi dụng tình trạng khó khăn, lệ thuộc khiến một ngƣời không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tuân theo sự ép buộc phải thực hiện hành vi đó, thì khi đó mới có khả năng phát sinh tình trạng LĐCB. b) NLĐ luôn chịu sự theo dõi, giám sát trong quá trình thực hiện công việc hay dịch vụ Chủ thể theo dõi, giám sát là chủ thể đƣợc hƣởng lợi ích trực tiếp từ việc thực hiện, công việc dịch vụ đó hoặc là ngƣời đƣợc ngƣời có công việc, dịch vụ thuê làm công việc giám sát này.
Hoạt động theo dõi, giám sát này khác với hoạt động quản lý NLĐ của NSDLĐ đƣợc quy định trong pháp luật của các quốc gia. Quản lý là nhu cầu tất yếu của nền sản xuất trong xã hội có giai cấp.