CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÓA ÁN TÍCH 1. Một số vấn đề lý luận về xóa án tích 1. Án tích Để có thể hiểu chính xác về xóa án tích, trước tiên ta cần nhận thức đúng về khái niệm, đặc điểm cũng như ý nghĩa của án tích. Trong quá trình nghiên cứu chế định xóa án tích, có thể thấy vấn đề án tích chưa từng được ghi nhận trong văn bản pháp luật hình sự nào cho đến năm 1985, khi BLHS đầu tiên được thông qua.
Tuy nhiên tại BLHS năm 1985, sau đó là BLHS năm 1999 khái niệm án tích vẫn chưa được đề cập hay giải thích đến. Khi chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về án tích, ta khó có thể hiểu rõ ràng về bản chất cũng như ý nghĩa của nó. Trên thực tế, có nhiều quan điểm của các nhà làm luật, học giả về khái niệm án tích. Phạm Hồng Hải “Án tích là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải chịu khi bị Tòa án kết án (tuyên một bản án buộc tội) theo đó người này có thể trở thành đối tượng bị áp dụng tình tiết tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm khi phạm tội mới” 12.
Khái niệm này chỉ đúng một phần, nêu lên hậu quả pháp lý của người mang án tích là nếu phạm tội mới có thể bị áp dụng tình tiết tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm như quy định tại Điều 49 BLHS 1999. Bên cạnh đó, khái niệm này chưa đúng khi án tích không phải lúc nào cũng là hậu quả pháp lý của việc kết án, đối với một số trường hợp như người bị kết án không phải chịu hình phạt khi được miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp, thì lúc đó bản án kết tội của Tòa không làm phát sinh án tích. Hồ Sĩ Sơn thì án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội, xuất hiện khi người đó chấp hành xong hình phạt và được xóa khi người đó đáp ứng đủ các điều kiện trong BLHS, coi như người chưa bị kết án hoặc nó sẽ vẫn còn tồn tại khi người này mặc dù chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện trong BLHS, người đó vẫn phải chịu các tình tiết định khung tăng nặng, tái phạm, tái phạm nguy hiểm,… nếu người đó phạm tội trong thời gian vẫn mang án 7 tích hoặc sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà theo BLHS vết tích đã từng bị kết án đối với hành vi ấy là yếu tố cấu thành tội phạm 35. Hay như theo TSKH.
Lê Văn Cảm đưa ra định nghĩa: Án tích là hậu quả pháp lý của việc áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật do Tòa án tuyên và được thể hiện trong việc chủ thể bị kết án mặc dù đã chấp hành xong các nội dung của bản án ấy nhưng theo các quy định của BLHS vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích 10. Định nghĩa này đưa ra khá đầy đủ, lý giải bản chất, đặc điểm của án tích mà một người phải chịu do hành vi phạm tội của mình gây ra và phải chịu trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi đạt được các điều kiện trong BLHS đưa, mới có thể được xóa án tích. Qua nghiên cứu, phân tích một số quan điểm về án tích cũng như kết hợp với quy định tại BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 khi bổ sung nhóm đối tượng pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự, ta có thể đưa ra một khái niệm về án tích như sau: Án tích là hậu quả pháp lý mà một người/pháp nhân thương mại phải gánh chịu khi bị kết án phải chịu hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án, tồn tại trong một thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến khi đạt được những điều kiện quy định trong BLHS thì được xóa bỏ. Khái niệm này ta thấy được bản chất pháp lý của án tích là hậu quả pháp lý mà người/pháp nhân thương mại bị kết án phải chịu khi thực hiện hành vi phạm tội.
Điều kiện phát sinh là khi có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án, đồng thời phải bị kết án chịu hình phạt nào đó theo quy định (không áp dụng với biện pháp tư pháp). Hơn nữa án tích này chỉ có tồn tại trong khoảng thời gian nhất định, nó sẽ được xóa bỏ khi người, pháp nhân thương mại có án tích thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, các định nghĩa của các nhà làm luật và định nghĩa của tác giả, ta có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản của án tích như sau: 8 Thứ nhất, đặc điểm cũng chính là bản chất của án tích là hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội mà một người/pháp nhân thương mại phải chịu, khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực. Người/pháp nhân đó bị Tòa án tuyên bằng một bản án có hiệu lực và chịu mức hình phạt nhất định mới có án tích.
Thứ hai, đặc điểm về mặt thời gian là án tích chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, không phải là đặc điểm nhân thân vĩnh viễn. Nó bắt đầu phát sinh từ khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực, và kết thúc khi án tích được xóa bỏ theo quy định của pháp luật, có thể là đương nhiên được xóa án tích hoặc xóa án tích theo quyết định của Tòa. Thời gian thử thách đối với mỗi người bị kết án phụ thuộc vào mức hình phạt mà họ phải chịu, còn với pháp nhân thương mại là 02 năm. Thứ ba, ngoài là hậu quả pháp lý bất lợi, án tích còn là hậu quả bất lợi về mặt xã hội, những người có án tích phải chịu những bất lợi nhất định.
Đối với những người vẫn mang án tích, thì trong một số loại giấy tờ như Phiếu LLTP, sẽ thể hiện rõ loại tội phạm cũng như hình phạt dành cho họ. Việc có án tích được xem như một đặc điểm xấu về nhân thân, nó khiến người mang án tích nhận về sự kì thị, xa lánh, thiếu thiện cảm của những người xung quanh. Hơn nữa họ còn bị hạn chế những quyền nhất định như về đi lại, kinh tế hay nghề nghiệp. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: … Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Sẽ không được nhận con nuôi. Hay tại Điểm a Khoản 1 Mục II của Thông tư số 53/2012/TT-BCA ngày 15/8/2012 của Bộ Công an quy định tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân thì những người muốn dự tuyển vào ngành Công an nhân dân thì bản thân và gia đình phải tuyệt đối chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phải chưa từng có tiền án 1. Nếu như người muốn dự tuyển vào ngành công an nhân dân mà có người thân (cha, mẹ) 9 đã từng có tiền án, kể cả trường hợp đã được xóa án tích thì vẫn không được xét tuyển, sơ tuyển vào lực lượng Công an nhân dân. Thứ tư, vì án tích chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, được xóa bỏ khi nào người/pháp nhân thương mại có án tích đạt đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thời gian mang án tích được coi như thời gian thử thách của những người mang án tích. Nhà nước quy định như vậy nhằm kiểm soát, thử thách bản lĩnh của người/pháp nhân thương mại bị kết án, để xem họ/pháp nhân đó có thực sự hối cải, hoàn lương hay không. Đối với hình phạt càng cao thì thời gian thử thách càng dài và ngược lại. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa xóa án tích Việc xác định một người có còn án tích hay không là một điều quan trọng khi áp dụng pháp luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân của một người cơ quan tiến hành tố tụng có thể xác định họ thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, từ đó xác định các tình tiết tăng nặng, căn cứ định khung, định tội phù hợp cho hành vi phạm tội của họ. Trong lý lịch của một người có án tích hay đã được xóa bỏ có ảnh hưởng rất lớn, bởi lẽ nó liên quan đến các quyền cơ bản của họ như lao động, học tập, đi lại, … Mang ý nghĩa quan trọng như vậy, nên việc nghiên cứu cụ thể về xóa án tích là cần thiết, vừa mang tính lý luận lại mang tính thực tiễn cấp bách. Cũng như án tích, dù đã trải qua các lần pháp điển hóa, nhưng trong BLHS vẫn chưa có điều luật nào quy định về khái niệm xóa án tích. Do đó tồn tại nhiều khái niệm xóa án tích khác nhau của các nhà làm luật.
Đinh Văn Quế viết: Xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối với một người đã bị Tòa án kết án, là sự thể hiện tính nhân đạo trong Luật hình sự ở nước ta…, là để cho người bị kết án không bị mặc cảm tội lỗi của mình, tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập cộng đồng 34. Theo quan điểm của PGS. Trần Đình Nhã: Xóa án tích được hiểu là xóa bỏ bản án hình sự đối với người đã bị Tòa án kết án. Sau khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt, 10 qua một thời gian nhất định và có những điều kiện bắt buộc, người bị kết án được xóa án tích, xóa án tích coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận 19.
Hai quan điểm trên đều nêu bật được ý nghĩa nhân đạo trong chế định xóa án tích trong BLHS Việt Nam đối với những người bị kết án, mang án tích. Tuy nhiên, việc cho rằng xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự là chưa chuẩn xác, bởi lẽ bản án chất của án tích là hậu quả pháp lý phát sinh đối với người có hành vi phạm tội, khi họ bị kết án phải chịu hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án, chứ không thể cho rằng án tích là bản án hình sự được.