Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT XIẾC VÀ NGHỆ THUẬT XIẾC VIỆT NAM 1. Giới thiệu chung về nghệ thuật xiếc 1. Lịch sử hình thành và sự phát triển Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất của các nhà nghiên cứu về lịch sử hình thành nghệ thuật xiếc. Tuy nhiên ở mỗi hướng tiếp nhận trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghệ thuật cũng đã đưa ra được những quan điểm và khái niệm để giải mã cho các công trình nghiên cứu của mình.
Tiếp cận ở góc độ lịch sử văn hóa, “theo tôi – xiếc là một loại hình nghệ thuật tổng hợp (tạp kỹ) của nghệ thuật sân khấu được bắt nguồn từ thực tế cuộc sống. Trong quá trình hình thành và phát triển, nó gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt văn hóa và các nghi thức tôn giáo trên cơ sở các trò chơi dân gian, những cuộc biểu diễn dân gian ngoài trời (lễ hội, hát xướng) và các cuộc thi đấu thể thao… Nghệ thuật xiếc là nghệ thuật biểu diễn các động tác, những hành động phi thường mang tính nghịch thường, mà những hành động, những động tác đó trong chuẩn mực văn hóa nhất định nhằm ca ngợi sức mạnh, khả năng kỳ diệu mà chỉ có con người hoặc thông qua con người mới có được.” (1) Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng “tiết mục xiếc sớm nhất của xiếc Trung Quốc là “Phi khứ lai khí”. Đó là một trong những dụng cụ đi săn hình chữ thập đẽo bằng những mảnh gỗ cứng. Những tay đi săn của bộ lạc nguyên thủy thường sử dụng thứ vũ khí đó phóng đi có thể xoay tròn này để bắt các loại chim bay, thú chạy, trong quá trình sử dụng, họ phát hiện ra rằng (1) Trích trong bài viết “Vài suy nghĩ từ những biểu hiện của Xiếc cổ truyền” – Hoàng Minh Khánh – tạp chí Văn hóa nghệ thuật số tháng 5/1999, tr.
-6- những chữ thập khác nhau, do ảnh hưởng của sức gió, nó có thể bay đi rồi lại quay về, và thế là nó trở thành tiết mục được biểu diễn trong các cuộc vui của các bộ lạc nguyên thủy” (2). Tiết mục này ngày nay vẫn còn được lưu truyền trong lễ hội “Nadamu được tổ chức hàng năm trên thảo nguyên Nội Mông Cổ” (3). Tương tự như sự ra đời của “Phi khứ lai khí”, một số tiết mục xiếc cổ khác cũng được hình thành từ các cuộc thi đấu thể thao như đấu vật, thi võ thuật, đua ngựa, thi ném xa… Theo tài liệu nghiên cứu về lịch sử xiếc Trung Quốc và căn cứ vào những di tích khảo cổ tìm thấy thuộc niên đại thời nhà Hán (206 Tr.CN – 220) “người ta nhận ra rằng có rất nhiều tiết mục xiếc do người Trung Quốc thời đó biểu diễn. Tài liệu này cũng khẳng định xiếc Trung Quốc đã hình thành và phát triển cách đây hơn hai ngàn năm, ngay từ thời chiến quốc thế kỷ thứ 3 trước công nguyên” (4).
Bằng chứng cụ thể vào năm 1954 các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã tìm thấy một bức bích họa khi khai quật ngôi mộ cổ thời Hán tại thôn Bắc Trại cách huyện lỵ Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông 8 dặm về phía Tây. Bức bích họa này được đặt tên là “Xiếc Bách Hý Đồ” đã miêu tả rất hình tượng và sinh động tình hình hoạt động sôi nổi của xiếc, các tiết mục xiếc thú thời cổ đại…Nhiều thể loại xiếc được miêu tả trong “Xiếc bách hý đồ” như “thủ kỹ, trồng cây chuối, đi trên dây, chống sào, biểu diễn trên mình ngựa, chống sào trên xe…đến nay vẫn được bảo tồn trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật xiếc của Trung Quốc”. (5) Một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong quá trình nghiên cứu là ngay từ thời xa xưa các nghệ nhân Trung Hoa đã sớm biết khai thác các kỹ năng, kỹ sảo chuyên sâu về năng lực của từng bộ phận trên cơ thể con người như một hệ thống khai thác các trò diễn xiếc: (2), (3), (4) Trích trong cuốn “Khúc nghệ, Xiếc, Rối, rối da Trung Quốc” Trần Nghĩa Mẫn và Lưu Tuấn Nhương chủ biên. Người dịch: Lê Huy Tiêu.
NXB Thế giới 2002. (5) Trích trong Từ điển Bách khoa toàn thư sân khấu Xô Viết – tổng biên tập P. Nxb Matxcova 1967 – tập V, tr. -7- - Kỹ xảo về tay (thủ kỹ): bao gồm các tiết mục thuộc thể loại trò khéo tung hứng như phi kiếm, tung ngọc, quay đĩa… - Kỹ xảo về đầu (đỉnh công): bao gồm các tiết mục thuộc thể loại thăng bằng như đế trán, đế trụ, hoặc kết hợp giữa trò khéo tung hứng với thăng bằng như đế thống (bình hoặc vại bằng các chất liệu như gỗ, gốm hay sành…) - Kỹ xảo về miệng (khẩu thuật): giả tiếng muông thú, phun lửa… - Kỹ xảo về thân thể: bao gồm các tiết mục trồng người, chui vào vại… Quan điểm của các nhà nghiên cứu Nghệ thuật học trong cuốn Bách khoa toàn thư của Anh khi nghiên cứu về nghệ thuật xiếc thì cho rằng đó là loại nghệ thuật có chuyên môn có lịch sử lâu đời bao gồm nhảy, kỹ xảo thân thể và động tác thăng bằng, sau này sử dụng thêm các khí cụ như gậy dài, xe đạp một bánh, quả cầu, thùng đệm, lò xo, giá đu…(6) Theo cuốn “Tiểu bách khoa toàn thư Xiếc” do A.E Xowlapxki biên soạn, nhà xuất bản Bách khoa toàn thư Xô Viết phát hành năm 1979, thì “ở các nước Ai Cập cổ, Hy Lạp cổ, La Mã cổ, Vitanxia và các nước khác thời đó đã có các nghệ sỹ Xiếc chuyên nghiệp.
Ở La Mã xưa có những trường đua ngựa hình bầu dục, nơi diễn ra các cuộc đua ngựa, có diễn viên nhào lộn, tung hứng, dạy thú… Cũng theo cuốn sách này thì thuật ngữ xiếc bắt nguồn từ tiếng La Tinh Circus có nghĩa là “tròn” – vòng tròn, sân tròn. Ban đầu các sân tròn có hình bầu dục, chức năng chủ yếu là là huấn luyện đua ngựa, tổ chức các cuộc đua ngựa hoặc các cuộc thi đấu thể thao. Sau dó ngoài mục đích thi đấu thể thao đã xuất hiện thêm hình thức biểu diễn mới – nghệ thuật cưỡi ngựa. Dần dần trong các chương trình đó, ngoài các kị sỹ đua ngựa, đã xuất hiện thêm các nghệ sỹ nhào lộn, các trò diễn tung hứng và hài hước đan xen.
Việc thay thế (6) Trích trong Từ điển Bách khoa toàn thư sân khấu Xô Viết – tổng biên tập P. Nxb Matxcova 1967 – tập V, tr. -8- các cuộc thi đấu và biểu diễn mang tính thể thao thành các buổi biểu diễn mang tính nghệ thuật tổng hợp, đã nhanh chóng thúc đẩy cho sự ra đời của một “sân khấu tròn” chuyên nghiệp và phù hợp với các loại hình nghệ thuật, thay cho diễn trường hình bầu dục là một nhu cầu tất yếu. Cũng từ đây thuật ngữ “Xiếc” không những được dùng để chỉ một danh từ riêng mà để chỉ một loại hình nghệ thuật mới mang tính tổng hợp – nghệ thuật Xiếc.
Kịch viện ngoài trời của F.át xto lây được dựng tại Luân Đôn năm 1807 được coi là rạp xiếc đầu tiên trên thế giới. Lần đầu tiên vào năm 1807, sân khấu xiếc với đường kính 13m được quy định chuẩn mang tính quốc tế là “sân khấu rạp xiếc tại thủ đo Pari của L. Phơ răng cô ni” Thế hệ nghệ sỹ xiếc được coi là đầu tiên trên thế giới, chính là thế hệ học sinh tại các trường dạy nghệ thuật cưỡi ngựa ở Ý vào những năm nửa đầu thế kỷ XIX. Các nhà sân khấu học thuộc Liên Xô cũ trong “Từ điển bách khoa toàn thư sân khấu” đã đưa ra khái niệm: “Xiếc là loại hình nghệ thuật thể hiện sức mạnh, sự khéo léo, lòng dũng cảm, các trò hài hước vui nhộn.
Những buổi biểu diễn lớn mang chủ đề có xen kẽ cả những tiết mục kịch câm, ảo thuật và các tiết mục thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác. Cơ sở ban đầu của Xiếc là biểu diễn sảo thuật, chúng được xây dựng trên cơ sở hài hước và những trò khéo tung hứng được sân khấu hóa. Nhà lý luận nghệ thuật học Xô Viết V.Kô gi nốp khi nghiên cứu về xiếc đã đưa ra quan điểm: nghệ thuật xiếc, về căn bản bao gồm thuật nhào lộn và múa rối. Nhưng các hình thức hoạt động của con người gần gũi với nhảy múa ấy vẫn đứng ngoài phạm vi sáng tạo, nếu xét đúng theo nghĩa của danh từ này.
Chúng kết hợp cả nghệ thuật lẫn thể thao, và khác với nghệ thuật ở chỗ thực ra chỉ biểu hiện sự phát triển về thể lực con người: sức mạnh, tài khéo léo, nhanh nhẹn. Trong đó thì nghệ thuật có nhiệm vụ biểu hiện nội dung tinh thần của con người, nếu không thế thì nó sẽ không biểu hiện qua hình tượng -9- của nó một quan niệm có tính nghệ thuật, quan niệm về con người hoàn chỉnh, toàn diện, mà chính nó là thực chất và mục đích của nghệ thuật” (7) Ở góc độ giáo dục, nhà giáo dục Xô Viết A.Lu na traxki đưa ra quan điểm; chúng ta phải thừa nhận tính chất đa dạng không thể tranh cãi được và tính chất giáo dục của nhiều yếu tố chủ yếu của nó. “Xiếc là một loại hình trình diễn sức khỏe và sự khéo léo của con người một cách cực kỳ chân thực”.(8) Bộ phận xiếc người biểu diễn bao gồm toàn bộ các thể loại tiết mục xiếc: - Thể loại nhào lộn: bao gồm các tiết mục nhào lộn trên không, nhào lôn dưới đất hay còn gọi là nhào lộn trên thảm, nhào lộn trên tay, nhào lộn trên sào, nhào lộn có đạo cụ và nhào lộn không có đạo cụ… - Thể loại trò khéo tung hứng: bao gồm các tiết mục xiếc tung hứng bằng tay, tung hứng bằng chân, tung hứng bằng đầu…Ngoài ra còn có các tiết mục tung hứng kết hợp với thể loại khác như thăng bằng hoặc nhào lộn. - Thể loại thăng bằng: bao gồm các tiết mục thuộc thể loại thăng bằng có đạo cụ, thăng bằng không có đạo cụ, thăng bằng kết hợp với các thể loại khác như nhào lộn, tung hứng, thể thao…Ví dụ các tiết mục thăng bằng trên dây thép, thăng bằng trên ghế, thăng bằng trên con lăn, thăng bằng trên păng, thăng bằng trên tay, thăng bằng trên sào… - Thể loại thể thao: bao gồm các tiết mục mang tính thể dục thể thao như tiết mục lực sỹ, leo cột, leo dây, xà đơn, xà kép, đu dây… - Ảo thuật: bao gồm các tiết mục và các trò diễn đòi hỏi sự khéo (7) Trích trong Các loại hình nghệ thuật – V.KO –GI-NOP, nxb nghệ thuật Matxcova 1960.
(8) Bàn về các rạp xiếc - A.Lu na traxki – trích trong tuyển tập “Những bài viết chọn lọc” , nxb Nghệ thuật Matxcova 1598.