Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Vài nét về vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Văn hóa nhà trường nói chung và văn hóa ứng xử nói riêng là những nội dung đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới. Lý thuyết cấu trúc- chức năng của Hofstede (2000) G.
Cultureal Dimensions trong xã hội học văn hóa đã nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể toàn diện, có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác trong hệ thống xã hội. Theo ông, bất kỳ một hệ thống nào trong xã hội đề có những nét nổi bật chung và nhằm hoạt động thành công như một hệ thống, những điều kiện tiên quyết nhất định phải được thực hiện theo thứ tự tầm quan trọng tăng dần: Thích nghi - Đạt được mục tiêu - Thống nhất - Duy trì kiểu mẫu. Trong đó, điều kiện cuối cùng chính là các giá trị làm nên nền văn hóa của hệ thống xã hội. Chính hệ thống văn hóa giữ vai trò kiểm soát các phương tiện khác.
Dưới góc độ VHƯX, tác giả H. Swartz (1998) Ứng xử văn hóa: những ảnh hưởng tích cực và những vấn đề nảy sinh (Cultural behavior: genetic effects and related problems) đã nghiên cứu một cách chi tiết về VHƯX, các cấp độ cũng như biểu hiện của VHƯX, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau. Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng phân tích cụ thể vai trò lãnh đạo trong xây dựng, thay đổi nhằm phát triển, cải thiện văn hóa ứng xử. Swartz VHƯX bao gồm 3 cấp độ: thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), thứ hai: Hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused), thứ ba: Những quan niệm chung (Basic underlying assumption) [30].
7 download by : skknchat@gmail.com Tác giả Tyler Lacoma (2002) Ứng xử văn hóa nơi công sở (Cultural Behavior in the Workplace) nghiên cứu và đưa ra công cụ đánh giá văn hóa ứng xử. Công cụ đánh giá văn hóa ứng xử là một phương tiện khảo sát được nhiều nhà lãnh đạo sử dụng để tạo ra hồ sơ văn hóa ứng xử nói chung. Công cụ này đánh giá chiều kích thước của VHƯX, dựa trên bộ khung lý thuyết về việc các tỏ chức vận hành như thế nào và văn hóa của tổ chức ấy đặt nền tảng trên những giá trị gì. Bộ công cụ này xác định cả VHƯX hiện hành lẫn VHƯX mà người ta mong muốn có được trong tương lai.
Bộ khung lý thuyết này có thể được dùng như một cách để chẩn đoán và đề xướng những thay đổi bước đầu VHƯX mà các tổ chức tạo ra trên bước đường phát triển của họ, khi họ phải đương đầu với áp lực của môi trường bên ngoài. Nghiên cứu về xây dựng văn hóa lành mạnh (strong culture) trong một tổ chức biết học hỏi (Learning Organization) có tác giả Ron Brandt ( 2003), Gladys Vivian Martoo ( 2006), Kelly, Luke và Green (2008),… Họ đã phân tích những đặc điểm cơ bản của nhà trường như một tổ chức biết học hỏi, cách thức để xây dựng nhà trường thành một tổ chức biết học hỏi. Nghiên cứu về xây dựng không khí nhà trường lành mạnh và hiệu quả, có tác giả Pace và Stern (1958), Halpin và Croft (1963), Denison (1996),….đã chỉ ra khuôn khổ và khái niệm về bầu không khí trong nhà trường; nhận diện các loại hình không khí học đường cơ bản và đánh giá không khí nhà trường và xác định rõ học đường cơ bản và đánh giá không khí trong nhà trường và xác định rõ văn hóa ứng xử và bầu không khí ứng xử thân thiện có những điểm đồng nhất nhưng VHƯX được thể hiện sâu hơn so với bầu không khí NT. Nhìn chung các công trình nghiên cứu về văn hóa nhà trường hay văn hóa ứng xử ở nước ngoài hết sức phong phú và chưa thật sự thống nhất.
Trong đó, việc xây dựng VHƯX có thể được tiếp cận theo nhiều phương tiện: xây dựng văn hóa hợp tác, xây dựng năng lực văn hóa trong nhà trường, xây dựng bầu không khí nhà trường, xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện trong nhà trường. 8 download by : skknchat@gmail. Ở trong nước Văn hóa ứng xử đã được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, tuy nhiên không phải là một nội dung độc lập mà chỉ là một nội dung nhỏ trong các nghiên cứu về văn hóa nhà trường. Trong các tài liệu và công trình nghiên cứu có thể kể đến các tài liệu của các tác giả như: Lê Thị Bừng,“ Tâm lý học ứng xử” ,NXB Giáo Dục, 2001, Nguyễn Thanh Tuấn (2008)“Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay”, Phạm Minh Thảo (2000) “Nghệ thuật ứng xử của người Việt”, [5],[27], [22].
Tác giả Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục: Trong cuốn sách này, tác giả đã không trình bày khái niệm văn hóa ứng xử, nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các quốc gia láng giềng). Với mỗi loại môi trường, đều có cách thức xử thế phù hợp là tận dụng và ứng phó. Ở Việt Nam hiện nay một số các nghiên cứu về văn hóa ứng xử được đề cập theo xu hướng sau: Xây dựng nhà trường theo tiếp cận văn hóa ứng xử: Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, … tập trung vào phân tích những nhiệm vụ của các tác giả nước ngoài về văn hóa ứng xử và đưa ra một số giải pháp cho các NT phổ thông hiện nay ở Việt Nam ở các vấn đề như vai trò của người quản lý trong việc kiến thiết và phát triển môi trường văn hóa lành mạnh và hiệu quả; vai trò của văn hóa ứng xử trong việc giúp NT đạt được mục tiêu trong thời kỳ hội nhập thông qua việc hình thành khả năng tư duy chiến lược của NT.
Xây dựng nhà trường theo tiếp cận hệ thống giá trị văn hóa của nhà trường của tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc xây dựng Văn hóa nhà trường bằng giáo dục giá trị được thể hiện qua ba mặt của văn hóa ứng xử: cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và giao tiếp ứng xử. Xây dựng một hệ giá trị 9 download by : skknchat@gmail.com trong NT để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người bên cạnh dạy chữ và dạy nghề. Xây dựng nhà trường thông qua xây dựng văn hóa học đường theo quan niệm của tác giả Vũ Dũng thì văn hóa học đường được đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong NT và môi trường sư phạm của NT. Xây dựng nhà trường theo mô hình văn hóa “ trường học thân thiện, học sinh tích cực” của nhóm tác giả Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt…lại phân tích mô hình văn hóa học đường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
Nhìn chung, những quan niệm, định nghĩa được các tác giả đưa ra còn chưa hệ thống và chưa đi sâu vào bản chất thực sự của văn hóa ứng xử. Hiện nay có một số cách hiểu về VHƯX trong vấn đề quản lý nhà trường như sau: Một là đồng nghĩa văn hóa ứng xử với các hoạt động cơ bản, bề nổi như: nghe, nói, đọc, viết. Bề sâu của nó là ứng xử, là cách thức nhìn nhận, những quan điểm về cuộc sống, công việc và thời gian. Hai là coi văn hóa ứng xử là sự đã rồi và không thể, không cách nào thay đổi.
Ba là coi văn hóa ứng xử là sản phẩm từ bên ngoài và nếu muốn áp dụng thì NT chỉ cần áp dụng một mô hình nào đó được coi là thành công để đưa vào tổ chức của mình. Bốn là hiện nay các nhà trường đều không có VHƯX và bây giờ đang phải xây dựng. Đây là một hạn chế trong quá trình phát triển của VHNT. Vì trên quan điểm đúng đắn nhất quản lý NT, trên quan điểm tiếp cận văn hóa chính là việc xem văn hóa ứng xử như là một công cụ để quản lý mà trong đó văn hóa ứng xử như một “ cái cây” đã có sẵn ổn định lâu đời chỉ có điều nhà quản lý tiếp tục vun trồng “ cái cây” phát triển tốt hơn.
Theo tác giả Lê Thị Ngọc Thúy thì lại nhấn mạnh đến các loại hình văn hóa trong NT như: văn hóa quản lý, văn hóa giảng dạy và văn hóa học 10 download by : skknchat@gmail.com tập trong nhà trường tạo nên các thể hiện sinh động của văn hóa ứng xử. Đồng thời đề xuất bộ tiêu chí đánh giá văn hóa ứng xử và được xem như vừa là công cụ vừa là mục tiêu để nhà trường hướng tới xây dựng tổ chức có văn hóa cao. Qua những nghiên cứu kể trên có thể thấy VHƯX,là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý lãnh đạo. VHƯX có ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục của NT.
Tuy nhiên, các nghiên cứu hoặc mới mang tính chất chung chung, hoặc mới dừng lại ở một cấp học, bậc học cụ thể. VHƯX của trường THPT chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến. Vì vậy, việc xây dựng VHƯX cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Một số khái niệm liên quan 1.
Văn hoá, môi trường văn hoá 1. Khái niệm văn hóa Có nhiều định nghĩa về văn hóa. Năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), đã tìm thấy không dưới 164 định nghĩa về văn hóa. Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính) mà cả ở cách sử dụng rộng rãi của từ này.
Tại Hội nghị Quốc tế các nhà văn tại Mehico do Unesco tổ chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa, bản tuyên bố chung của hội nghị đó chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Như vậy, dưới góc độ xã hội học thì văn hóa là một hiện tượng xã hội gắn với đời sống xã hội, còn nội dung của văn hóa chính là sản phẩm của hoạt 11 download by : skknchat@gmail.