Phần mở đầu. − Phần nội dung : bao gồm 04 chƣơng : + Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về VHDN. + Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. + Chƣơng 3: VHDN tại Công ty VDC.
+ Chƣơng 4: Giải pháp xây dựng VHDN tại Công ty VDC. − Phần kết luận. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG VHDN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu nổi bật về VHDN trên thế giới Trên thế giới, VHDN không chỉ là một vấn đề mang tính thời sự, mà đã trở thành một bộ môn khoa học trong quản trị doanh nghiệp đƣợc nghiên cứu, phát triển từ gần nửa thế kỷ qua. Đóng góp của nó đã đƣợc chứng minh bằng thành công to lớn của các công ty Nhật Bản trong những năm 70 và xu thế tái cơ cấu, những thay đổi của các doanh nghiệp truyền thống phƣơng Tây những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của cả các học giả, có những công trình mang tính nền tảng, có những công trình mang tính nối tiếp, phát triển thêm, những lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu mới mới, chạm đến từng ngóc ngách của vấn đề.
Đƣợc hình thành từ hái khái niệm là "văn hóa" và "doanh nghiệp" nên cũng có rất nhiều khái niệm VHDN đƣợc đƣa ra. Các khái niệm đƣợc đƣa ra ở những thời điểm khác nhau, có những điểm chung, và cũng nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau, đƣợc đƣa ra bởi nhiều tác giả khác nhau, từ cá nhân là các nhà quản lý doanh nghiệp, chính trị gia, nhà văn hóa, học giả. cho đến các tổ chức nhƣ ILO. Chính sự trừu tƣợng, độ rộng của vấn đề khiến chúng ta khó có thể đƣa ra một định nghĩa VHDN đƣợc tất cả thống nhất công nhận.
Trong những năm 1980, giáo sƣ Denison ở trƣờng kinh doanh IMD (Thụy Sỹ) đã tiến hành nghiên cứu rất nhiều công ty lớn và xây dựng mô hình 04 đặc điểm văn hóa có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của công ty, bao gồm : khả năng thích ứng, sứ mệnh, tính nhất quán, sự tham chính. Vào năm 1995, ông tiếp tục mở rộng nghiên cứu của mình ra 764 công ty. Mô hình của Denison đã và đang đƣợc áp dụng làm cơ sở để tiến hành phân tích nghiên cứu, đề xuất xây dựng VHDN áp dụng trong các doanh nghiệp ở nhiều nƣớc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Edgar Schein, giáo sƣ ở trƣờng quản lý MIT (Hoa Kỳ), trong cuốn sách nổi tiếng "Organizational Culture and Leadership" xuất bản lần đầu năm 1992, bên cạnh việc đƣa ra định nghĩa và cách phân chia văn hóa tổ chức thành 3 tầng bao gồm : các thực thể hữu hình; các niềm tin và giá trị đƣợc đồng thuận; các giả định căn bản.
Lý thuyết của Schein thƣờng đƣợc sử dụng để phân tích những biểu hiện cụ thể của văn hóa tại doanh nghiệp cụ thể.Cameron và Robert E.Quinn, trong cuốn "Diagnosing and changing organisational culture" đã giới thiệu phƣơng pháp nhận diện, phân tích 04 mô hình văn hóa tổ chức theo 6 đặc tính bằng bộ công cụ đo lƣờng OCAI và công cụ MSAI, đồng thời đề xuất quy trình 09 bƣớc để thay đổi văn hóa một tổ chức. Giáo sƣ Hofstede, ngƣời Hà Lan, đã đƣa ra khái niệm về các chiều văn hóa thể hiện sự hòa hợp, xung đột giữa các nền văn hóa trong tổ chức. Lý thuyết này đƣợc các tập đoàn, công ty đa quốc gia áp dụng rộng rãi. 04 chiều văn hóa bao gồm: khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân/chủ nghĩa tập thể, tránh rủi ro, nam tính/nữ tính.
Từ nghiên cứu của Michael Harris Bond và các đồng nghiệp ở Hồng Kông, Hofstede đã bổ sung thêm chiều thứ 5 có tên là Hƣớng tƣơng lai. Trong cuốn "Cultures and Organizations: Software of the Mind" xuất bản năm 2010, Hofstede cùng Michael Minkov bổ sung thêm chiều thứ 6. Hai tác giả Julie Heifetz và Richard Hagberg đã đề xuất một mô hình gồm 11 bƣớc để xây dựng VHDN một cách tổng thể. Thực trạng và một số nghiên cứu về VHDN ở Việt Nam Ở Việt Nam, cùng với sự hội nhập kinh tế, vấn đề văn hóa trong doanh nghiệp cũng đƣợc các học giả, các doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn.
Do đi sau khá lâu nên các học giả trong nƣớc chủ yếu thừa kế nghiên cứu cua các tác giả nƣớc ngoài về mặt lý luận, hoặc tập trung nghiên cứu những mặt, mảng nội dung nhỏ, cụ thể của VHDN, , hoặc tại một doanh nghiệp, ngành cụ thể trong hoàn cảnh nền kinh tế Việt Nam có những nét riêng. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một trong những tài liệu đầu tiên mang của tác giả Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này là cuốn "Môi trƣờng kinh doanh và đạo đức kinh doanh" của Ngô Đình Giao xuất bản năm 1997, đã nêu ra những vấn đề căn bản, mang tính nền tảng nhất của VHDN. Cuốn "Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty" của Nguyễn Mạnh Quân tập trung nghiên cứu một VHDN ở một nội dung quan trọng là đạo đức trong kinh doanh, cùng với đó giới thiệu những bài học thực tế điển hình trên thế giới liên quan đến nội dung nghiên cứu. Cuốn "Giáo trình văn hóa kinh doanh" xuất bản năm 2012 của Dƣơng Thị Liễu đi sâu vào phân tích các yếu tố của văn hóa kinh doanh, thực trạng văn hóa kinh doanh trên thế giới, ở Việt Nam và những khác biệt.
Giáo trình này là một tài liệu đƣợc lựa chọn giảng dạy tại một số trƣờng Đại học ở Việt Nam do tính chất cơ bản của những nội dung nêu ra, cách tiếp cận dễ hiểu và những ví dụ minh họa cụ thể. Tác giả Đỗ Minh Cƣơng, từ rất sớm, trong cuốn "Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh" xuất bản năm 2001, đã đi sâu nghiên cứu VHDN ở một khía cạnh quan trọng và cụ thể là trong mối quan hệ với triết lý kinh doanh. Một số đề tài nghiên cứu về văn hóa tại một doanh nghiệp cụ thể do chính tác giả là thành viên tổ chức thực hiện thƣờng đi khá sâu nghiên cứu những biểu hiện, đánh giá VHDN đó để hƣớng đến mục tiêu là đề xuất những biện pháp cụ thể để xây dựng VHDN. Trong luận văn "VHDN của Maritime Bank", tác giả Bùi Thanh Nga tại ĐH Kinh tế quốc dân đã tiến hành nghiên cứu văn hóa tại một doanh nghiệp cụ thể , quy mô tƣơng đối lớn là Ngân hàng TMCP Hàng hải.
Trong đó nội dung nghiên cứu thực trạng VHDN đƣợc tác giả nghiên cứu các yếu tố cấu thành theo mô hình văn hóa 3 tầng của Schein và khảo sát thực tế theo phƣơng pháp của Camerron và Quinn. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn "Phát triển VHDN của Công ty thông tin di động" do tác giả Đỗ Thị Hà Hạnh tại Học viện công nghệ bƣu chính viễn thông thực hiện năm 2010 lại nghiên cứu VHDN của Công ty Mobifone trong hoàn cảnh công ty vừa chuyển đổi mô hình hoạt động sang thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu. Ngoài ra tác giả cũng tập trung vào những nét đặc trƣng của VHDN có liên quan đến lĩnh vực hoạt động là viễn thông. Là ngƣời đi sau, học viên lựa chọn công nhận, áp dụng có chọn lọc những lý thyết có tính nền tảng đã công bố của các học giả nƣớc ngoài để áp dụng vào doanh nghiệp mình một cách phù hợp theo quy mô, năng lực khảo sát, nghiên cứu của mình.
Cụ thể là nghiên cứu về 3 tầng văn hóa của Schein và 4 mô hình văn hóa của Cameron & Quinn. Định nghĩa văn hóa và VHDN 1. Định nghĩa văn hóa Trong khi khái niệm về "VHDN" chỉ mới có và đƣợc quan tâm nghiên cứu từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 thì khái niệm "văn hóa"đã xuất hiện từ rất lâu đời và trở thành một trong những khái niệm cơ bản, thông dụng nhất. Xét về mặt từ ngữ, từ "văn hóa" trong tiếng Anh và tiếng Pháp (culture), tiếng Đức (kultur) xuất phát từ "cultus" trong tiếng Latinh, nghĩa là trồng trọt, bao gồm "agriculture" nghĩa là "trồng trọt cây trái, thảo mộc" và "cultus animis"là "trồng trọt tinh thần".
Trong tiếng Hán cổ, "văn" là vẻ đẹp của nhân tính, của tri thức và trí tuệ con ngƣời, còn "hóa" nghĩa là đem cái "văn" để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn, đời sống. Nhƣ vậy, cả Phƣơng Đông và Phƣơng Tây đều có chung quan niệm văn hóa gắn với các hoạt động tinh thần, là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con ngƣời hƣớng tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Edward Burnett Tylor, nhà nhân chủng học ngƣời Anh, là một trong những 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời sớm đƣa ra định nghĩa "văn hóa là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con ngƣời đạt đƣợc với tƣ cách là thành viên của một xã hội " (8). Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngƣời, từ tri thức, tín ngƣỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật.
Kroeber và Kluckhohn, trong cuốn "Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa" (tên tiếng Anh: Culture, a critical review of concept and definitions), đã trích khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đƣa ra ở nhiều nƣớc khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói về văn hóa "vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ vì mục đích cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phƣơng tiện, phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" (9). Trong Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa 2002, tổ chức UNESCO đã đƣa ra định nghĩa “văn hóa nên đƣợc xem là tập hợp các đặc trƣng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin” (17).
Định nghĩa này đƣa ra khái niệm văn hóa theo ba cấp độ khác nhau. Ở mức đơn giản nhất, văn hóa đƣợc xem là văn học và nghệ thuật.