Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Agibank chi nhánh Tràng An Chương 3: Giải pháp hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp Agibank chi nhánh Tràng An 13 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm “văn hóa” “Văn hóa” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như trong đời sống xã hội. Văn hóa tồn tại dưới nhiều dạng thưc khác nhau, phản ánh mọi mặt, mọi khía cạnh của cuộc sống con người.
Hiện nay, văn hóa được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều nghĩa hiểu khác nhau.13] Theo UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Năm 1943, Hồ Chí Minh viết: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Ở các nước phương Tây, vấn đề khái niệm VHDN đã được quan tâm nghiên cứu từ khá sớm. Tuy nhiên, khái niệm VHDN mới chỉ đi vào lĩnh vực nghiên cứu hàn lâm của Mỹ bắt đầu vào những năm 70 của thế kỉ XX, sau những thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản trên phạm vi toàn thế giới. Cho đến đầu những năm 90, người ta mới bắt đầu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về những nhân tố cấu thành cũng như những tác động to lớn của VHDN đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Sau gần 4 thập kỷ ra đời, số lượng các tác giả và công trình nghiên cứu về VHDN ngày càng đa dạng, phong phú và cùng với đó, khái niệm VHDN ngày càng được hoàn thiện.
Theo Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO): “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt 14 với các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứngxử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Theo Nguyễn Mạnh Quân (2011) “VHDN được định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và Phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên” [17]. Theo Dương Thị Liễu (2013) “VHDN là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kính doanh riêng của doanh nghiệp” [13]. Điểm chung của các định nghĩa trên là “VHDN có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các cá nhân, kể cả những người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp”.
Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của DN, tạo thành định hướng có tính chiến lược cho bản thân DN. VHDN có vai trò là một lực lượng hướng dẫn, là ý chí thống nhất của tất cả lãnh đạo và cán bộ nhân viên của doanh nghiệp. Có rất nhiều các tác giả đưa ra khái niện VHDN, tác giả đồng tính và sử dụng khái niệm của PGS.TS Hoàng Văn Hải cho rằng: VHDN là hệ thống các giá trị, các quan niệm, chuẩn mực và hành vi của doanh nghiệp, do doanh nghiệp sử dụng sáng tạo và tích lũy trong quá trình kinh doanh, chi phối mọi hoạt động của thành viên và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp. Khái niệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp Xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một quá trình tổng thể bao gồm nhiều bước liên quan.
Vậy để xây dựng văn hoá doanh nghiệp một cách tổng thể thì cần theo những bước cụ thể nào? Có nhiều mô hình được các nhà nghiên cứu đề xuất trong đó mô hình 11 bước của hai tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg đã đưa ra những bước đi cụ thể, rõ ràng nhất: “1) Tìm hiểu môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược doanh 15 nghiệp trong tương lai. Xem xét có yếu tố nào làm thay đổi chiến lược doanh nghiệp trong tương lai. 2) Xác định đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho thành công. Đây là bước cơ bản nhất để xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
Các giá trị cốt lõi phải là các giá trị không phai nhòa theo thời gian và là trái tim, linh hồn của doanh nghiệp. 3) Xây dựng tầm nhìn mà doanh nghiệp sẽ vươn tới. Tầm nhìn chính là bức tranh lý tưởng về doanh nghiệp trong tương lai. Tầm nhìn chính là định hướng để xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
Có thể doanh nghiệp mà ta mong muốn xây dựng hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp hiện đang có. 4) Đánh giá văn hóa hiện tại và xác định những yếu tố văn hoá nào cần thay đổi. Sự thay đổi hay xây dựng văn hoá doanh nghiệp thường bắt đầu bằng việc đánh giá xem văn hoá hiện tại như thế nào và kết hợp với chiến lược phát triển doanh nghiệp. Đánh giá văn hoá là một việc cực kỳ khó khăn vì văn hoá thường khó thấy và dễ nhầm lẫn về tiêu chí đánh giá.
Những ngầm định không nói ra hay không viết ra thì càng khó đánh giá. Thường thì con người hoà mình trong văn hoá và không thấy được sự tồn tại khách quan của nó. 5) Khi chúng ta đã xác định được một văn hoá lý tưởng cho doanh nghiệp mình và cũng đã có sự thấu hiểu về văn hoá đang tồn tại trong doanh nghiệp mình. Lúc này sự tập trung tiếp theo là làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa những giá trị chúng ta hiện có và những giá trị chúng ta mong muốn.
6) Xác định vai trò của lãnh đạo trong việc dẫn dắt thay đổi văn hóa. Lãnh đạo đóng vai trò cực kỳ quan trọng cho việc xây dựng văn hoá. Lãnh đạo là người đề xướng và hướng dẫn các nỗ lực thay đổi. Lãnh đạo chịu trách nhiệm xây dựng tầm nhìn, truyền bá cho nhân viên hiểu đúng, tin tưởng và cùng nỗ lực để xây dựng.
Lãnh đạo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xua tan những mối lo sợ và thiếu an toàn của nhân viên. 7) Khi khoảng cách đã được xác định thì việc tiếp theo là soạn thảo một kế hoạch hành động bao gồm các mục tiêu, hoạt động, thời gian, điểm mốc và trách nhiệm cụ thể. Cái gì là ưu tiên? Đâu là chỗ chúng ta cần tập trung nỗ 16 lực? Cần những nguồn lực gì? Ai chịu trách nhiệm về những công việc cụ thể? Thời hạn hoàn thành? 8) Phổ biến nhu cầu thay đổi, kế hoạch hành động và động viên tinh thần, tạo động lực cho sự thay đổi. Sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến đời sống nhân viên.
Họ cần được biết sự thay đổi đó đem lại điều tốt đẹp cho họ. Sự động viên, khuyến khích sẽ dễ dàng hơn khi mọi người được biết vai trò của mình là đóng góp và xây dựng tương lai doanh nghiệp. 9) Nhận biết các trở ngại và nguyên nhân từ chối thay đổi và xây dựng các chiến lược để đối phó. Lôi kéo mọi người ra khỏi vùng thoải mái của mình là một công việc rất khó.
Vì vậy người lãnh đạo phải khuyến khích, động viên và chỉ cho nhân viên thấy lợi ích của họ tăng lên trong quá trình thay đổi. 10) Thể chế hóa, mô hình hóa và củng cố sự thay đổi văn hóa. Các hành vi, quyết định của lãnh đạo phải thể hiện là mẫu hình cho nhân viên noi theo và phù hợp với mô hình văn hoá đã xây dựng. Trong giai đoạn này các hành vi theo mẫu hình lý tưởng cần được khuyến khích, động viên.
Hệ thống khen thưởng phải được thiết kế phù hợp với mô hình xây dựng văn hoá doanh nghiệp. 11) Tiếp tục đánh giá VHDN và thiết lập các chuẩn mực mới về không ngừng học tập và thay đổi. Văn hoá không phải là bất biến vì vậy khi ta đã xây dựng được một văn hoá phù hợp thì việc quan trọng là liên tục đánh giá và duy trì các giá trị tốt, truyền bá những giá trị đó cho nhân viên mới” [25]. Trong tất cả 11 bước của mô hình, người lãnh đạo đóng vai trò quyết định.
Họ có thể là người trực tiếp đánh giá VHDN, người đưa ra những giá trị văn hóa họ mong muốn vào trong tổ chức hoặc họ có thể đóng vai trò lãnh đạo tập thể trong từng bước xây dựng của mô hình. Việc thành công hay thất bại của việc xây dựng VHDN phụ thuộc rất lớn vào năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống của nhà lãnh đạo. Nếu năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống, phong cách lãnh đạo phù hợp với triết lý kinh doanh và hệ thống giá trị, bản sắc của doanh nghiệp, năng lực lãnh đạo của lãnh đạo cao họ sẽ thực hiện 17 thành công vị trí, vai trò của mình. Ngoài ra, việc các nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp lĩnh hội các giá trị, bản sắc, sứ mệnh đến đâu còn tùy thuộc vào sức mạnh chuẩn mực của giá trị, sự hòa hợp giữa các phòng, ban trong doanh nghiệp, hiệu quả của việc truyền đạt các giá trị.
Như vậy, xây dựng VHDN không đơn thuần là liệt kê ra các giá trị, cốt lõi, bản lĩnh mong muốn của nhà lãnh đạo rồi đưa vào các qui định mà là làm sao để hòa những qui định này vào trong mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và trong mọi hoàn cảnh, lúc thịnh vượng cũng như lúc khó khăn. Quá trình này không những đòi hỏi vai trò dẫn dắt của nhà lãnh đạo quản lý mà còn đòi hỏi sự hỗ trợ, nỗ lực, đồng tâm và kiên trì của tất cả nhân viên, người lao động thì mới có thể thành công được. Vai trò xây dựng văn hoá doanh nghiệp VHDN là động lchìa khóa cho một DN vượt trội và chức năng của lãnh đạo là tạo ra và quản lý văn hóa. Các nhà lãnh đạo và nghiên cứu có kinh nghiệm trong lĩnh vực chiến lược và phát triển DN đều đề nghị rằng việc kiểm tra các vấn đề văn hóa tại cấp độ doanh nghiệp là hoàn toàn cần thiết (Shein, 2004).
Do đó kiểm soát văn hóa là một vấn đề quan trọng đối với trách nhiệm điều hành doanh nghiệp.