phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề án kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về văn hóa công sở trong cơ quan Đảng Chƣơng 2. Thực trạng xây dựng văn hóa công sở tại các cơ quan Khối Đảng tỉnh Bình Định Chƣơng 3. Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện xây dựng văn hóa công sở tại các cơ quan Khối Đảng tỉnh Bình Định 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TRONG CƠ QUAN ĐẢNG 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về văn hóa Khái niệm văn hóa đƣợc sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong các văn kiện của Đảng và Nhà nƣớc với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa thông thƣờng, “văn hóa” là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra trong quá trình lịch sử, là những hiểu biết của con ngƣời, thể hiện nếp sống, tính cách, cấp độ tƣ duy, trình độ phát triển, phẩm giá của mỗi ngƣời và mỗi dân tộc [5]. Theo Từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [28, tr.
Mặt khác, năm 1988, khi bàn về văn hóa, Tổ chức UNESCO khi đó khẳng định rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ cũng nhƣ trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [40, tr. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài ngƣời sáng tạo ra với phƣơng thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài ngƣời. Ngƣời viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng 11 ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [25, tr. Nhƣ vậy, văn hóa đƣợc hiểu là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và giá trị của nhân dân một nƣớc, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc. Văn hóa là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động.
Khái niệm về văn hóa công sở Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về VHCS bởi nội hàm khái niệm này khá rộng. VHCS có thể đƣợc hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của CB,CC,VC đang công tác tại các cơ quan với nhau và với đối tƣợng giao tiếp là các công dân tới các cơ quan vì công việc trong quá trình thực thi công vụ, nhằm phát huy tối đa năng lực của những ngƣời tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc tại công sở. Mặt khác, VHCS còn có thể hiểu là một hệ thống giá trị đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của các nhân viên làm việc trong công sở, ảnh hƣởng đến cách làm việc và hiệu quả hoạt động của công sở trên thực tế [32, tr. Cùng với đó, theo tác giả Đào Minh Tuấn và Nguyễn Thị Ngoan cho rằng: VHCS là tổng hòa các giá trị hữu hình và vô hình bao gồm trình độ nhận thức, phƣơng pháp tổ chức, quản lý, môi trƣờng cảnh quan, phƣơng tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ, công chức nhằm xây dựng một cơ sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao [37].
12 Theo tác giả Vũ Thị Phụng thì VHCS là tổng hòa những giá trị hữu hình và vô hình bao gồm trình độ nhận thức, phƣơng pháp tổ chức, quản lý, môi trƣờng - cảnh quan, phƣơng tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ, công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao [29]. VHCS là tổng hợp của hệ thống các giá trị vật chất và giá trị tinh thần đƣợc các thành viên trong các tổ chức bảo tồn, duy trì và phát huy từ quá khứ đến hiện tại, là thành quả trí tuệ sáng tạo của con ngƣời trải qua các nền văn minh khác nhau, với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, thể hiện bản chất Nhà nƣớc và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Còn theo tác giả Trần Hoàng, VHCS đƣợc hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ, công chức nhà nƣớc với nhau và với đối tƣợng giao tiếp là công dân, nhằm phát huy tối đa năng lực của những ngƣời tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc tại công sở [18, tr. Ở một góc nhìn khác, tác giả Nguyễn Đăng Dung giới thiệu khái niệm VHCS đƣợc hiểu là: Toàn bộ những giá trị tạo nên nề nếp, hiệu quả hoạt động của cơ quan, bao gồm những giá trị văn hóa vật thể (cơ sở vật chất, môi trƣờng làm việc ở công sở, quần áo, trang phục, phù hiệu của công chức làm việc tại công sở…) và văn hóa phi vật thể (văn hóa ứng xử, giao tiếp, văn hóa lãnh đạo, văn hóa nghe và trả lời điện thoại…) [10, tr.
Có thể thấy rằng, ở mỗi góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra những quan niệm riêng của mình về VHCS. VHCS đƣợc nhìn nhận ở đây nhƣ một dạng văn hóa tổ chức của các cơ quan công quyền, chịu trách nhiệm thực thi nhiệm vụ tổ chức và quản lý xã hội gắn với chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ mà Nhà nƣớc và nhân dân giao phó. 13 Từ những quan niệm nêu trên, trong giới hạn của nghiên cứu, tôi cho rằng, VHCS là các giá trị có tính chuẩn mực chung, làm nền tảng cho sự gắn kết giữa CB,CC,VC, ngƣời lao động khi thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao; bao gồm hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, phản ánh sự đúng đắn, tính nhân văn, nét đẹp và niềm tin đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động, phát triển của công sở, đƣợc mọi ngƣời tuân thủ, tự giác thực hiện vì mục tiêu chung. VHCS là các hoạt động mang tính văn hóa của cơ quan diễn ra theo hệ thống các giá trị và chuẩn mực nhất định nhằm liên kết và tổ chức các CB,CC,VC hƣớng tới thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ nhất định theo những phƣơng thức nhất định, tạo nên bản sắc riêng, phản ánh sức sống, sức sáng tạo của mỗi công sở.
Phương thức xây dựng văn hóa công sở Để xây dựng và thực hiện có hiệu quả VHCS, các cơ quan, đơn vị thƣờng xuyên thực hiện một số phƣơng thức cơ bản nhƣ sau: - Phƣơng thức lãnh đạo, chỉ đạo. - Phƣơng thức giao tiếp. - Phƣơng thức tuyên truyền. - Phƣơng thức cải tiến lề lối làm việc.
- Phƣơng thức sinh hoạt nơi công sở. - Phƣơng thức kiểm tra, giám sát. Khái niệm văn hóa công sở trong các cơ quan Đảng Đại hội XIII của Đảng định hƣớng phát triển văn hóa, con ngƣời nhiệm kỳ 2021-2016 đã nhấn mạnh một nhiệm vụ quan trọng là “Chú trọng xây dựng môi trƣờng VHCS lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn” [13, tr.144], tạo cơ sở pháp lý cho cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân triển khai thực hiện. 14 Ở Việt Nam, các cán bộ, công chức đều ý thức rất rõ: họ đang làm việc vì ai, vì cái gì và tại sao họ lại đạt hiệu quả làm việc cao nhƣ vậy.
Phần lớn họ có ý thức văn hóa dân tộc rất cao, có nhận thức cao trong sự phát triển đất nƣớc, ý thức về danh dự của nhà nƣớc, về truyền thống của cơ quan công sở, nơi đang làm việc và cống hiến; hơn nữa lƣơng tâm và danh dự, ý thức về sự tồn tại khiến họ ý thức đƣợc văn hóa là động lực phát triển của mọi hoạt động trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Nhƣ vậy, VHCS trong các cơ quan Đảng là hệ thống các giá trị mang tính chuẩn mực, đƣợc các thế hệ công chức trong cơ quan Đảng tạo dựng nên và tuân thủ một cách tự giác, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. VHCS trong các cơ quan Đảng có vai trò rất quan trọng, quyết định chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Đảng, góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, VHCS trong các cơ quan Đảng còn là việc thể hiện đạo đức, phẩm chất của CB,CC,VC trong khi thực thi nhiệm vụ, thể hiện trình độ văn hóa của mỗi ngƣời, để bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan Đảng Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của văn hóa. Các chủ trƣơng, đƣờng lối của Ðảng về xây dựng, phát triển văn hóa luôn nhất quán, không ngừng đƣợc bổ sung, phát triển qua từng thời kỳ cách mạng. Năm 1943, Đề cƣơng về văn hóa Việt Nam ra đời, xác định 3 mặt trận quan trọng của cách mạng Việt Nam là chính trị, kinh tế và văn hóa. Đồng thời, nhấn mạnh chủ trƣơng phát triển nền văn hóa Việt Nam với các đặc trƣng “dân tộc, khoa học, đại chúng” [9, tr.
Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại 15 hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào ngày 24/11/2021, Tổng Bí thƣ Nguyễn Phú Trọng đã có phát biểu đáng chú ý về vai trò của văn hóa: “Tôi nhớ trƣớc đây có một vị tiền bối nói là văn hóa nói lên bản sắc của một dân tộc, văn hóa còn dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”.