CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1. Giới thiệu về sơ lược về Sở Giáo dục và Thể thao tỉnh Chămpasak Chămpasak là một tỉnh ở phía tây nam nước Lào, kề biên giới với Thái Lan và Campuchia. Đây là một trong ba lãnh địa nằm trên đất Lào, thuộc vương quốc Lan Xang. Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2015, đô thị này có dân số 694.
Tên tỉnh lấy từ tên Vương quốc Champasak với thủ phủ cũ là thị trấn Champasak. Tỉnh lị là Pakse. Sở Giáo dục và Thể thao tỉnh Chămpasak tọa lạc tại xã Pakse, Thành phố Pakse, tỉnh Chămpasak, đường số 1. Phía nam của sở giáp trụ sở chính quyền tỉnh, phía bắc giáp trường Đại học kỹ thuật, phía đông giáp bệnh viện tỉnh Chămpasak và phía tây giáp trường tiểu học Pakse.
Sở giáo dục và thể thao tỉnh Chămpasak là một trong các tổ chức của Chính phủ, có vai trò đầu não điều hành, quản lý vĩ mô các hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học và thể dục thể thao trong cả nước, là trung tâm phát triển nguồn nhân lực theo 3 đặc trưng và 5 nguyên tắc giáo dục quốc dân. Cơ cấu tổ chức của Sở Cơ cấu tổ chức của sở gồm có: 1. Phòng tổ chức cán bộ 3. Phòng thanh tra 4.
Sở tài chính 5. Sở kế hoạch 6. Vụ hợp tác với nước ngoài 7. Phòng đảm bảo chất lượng giáo dục 8.
Khoa giáo dục mầm non 9. Vụ giáo dục phổ thông 10. Vụ giáo dục nghề nghiệp 11. Vụ giáo dục đại học 12.
Sở giáo dục bên ngoài trường học 13. Phòng công tác sinh viên 15. Sở thể thao quần chúng và nghệ thuật 3 16. Bộ môn thể thao cấp cao 17.
Phòng quản lý khoa học 18. Văn phòng hội đồng khoa học quốc gia 19. Viện nghiên cứu giáo dục 20. Viện phát triển quản lý giáo dục 21.
Viện nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo 1. Nhiệm vụ về Sở Giáo dục và Thể thao tỉnh Chămpasak như sau: 1. Thi hành hiến pháp luật, nghị quyết của quốc hội, sắc lệnh của chủ tịch nước, nghị định, nghị quyết của chính phủ; 2. Nghiên cứu, chuyển hóa đường lối, chiến lược, kế hoạch, nghị quyết của Nhà nước về giáo dục, khoa học, thể thao thành chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án cụ thể và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đạt hiệu quả, thiết thực; 3.
Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật và các văn bản dưới luật của ngành giáo dục và thể thao; 4. Xác định chuẩn chất lượng và trình độ giáo dục quốc gia đối với các cấp học, mọi tuyến ngang tầm khu vực và quốc tế; 5. Quảng cáo, phổ biến chính sách, pháp luật, văn bản dưới luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển giáo dục, khoa học và thể thao; 6. Hướng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy giáo dục mầm non để trẻ em được chăm sóc về dinh dưỡng, sức khỏe để lớn lên về thể chất và tinh thần chuẩn bị bước vào cấp tiểu học; 7.
Hướng dẫn, khuyến khích, đẩy mạnh giáo dục phổ thông nhằm phát triển học sinh phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ, có kiến thức cơ bản về tự nhiên - xã hội và khoa học nghề nghiệp; 8. Chỉ đạo, khuyến khích, thúc đẩy và quản lý công tác xóa mù chữ, nâng bậc để thực hiện kế hoạch giáo dục bắt buộc và dạy nghề cơ bản cho các nhóm đối tượng giáo dục ngoài nhà trường và thúc đẩy học tập suốt đời; 9. Hướng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy và quản lý giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo, phát triển học sinh về chuyên môn, nghiệp vụ, học lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; 10. Chỉ đạo, khuyến khích, thúc đẩy và quản lý công tác giáo dục đại học để quản lý giảng dạy, thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ kỹ thuật, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ, đào tạo đội ngũ học giả, chuyên gia cao cấp, 4 nhà nghiên cứu, nhà khoa học nhằm đáp ứng mục tiêu nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và liên kết với khu vực và quốc tế; 11.
Chỉ đạo, khuyến khích, đẩy mạnh công tác giáo dục kịch nghệ trong nhà trường và thể dục thể thao 01 quần chúng để mọi người dân quan tâm rèn luyện, rèn luyện sức khoẻ gắn với đời sống, tạo sự đoàn kết, vui vẻ để tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần; 12. Hướng dẫn, khuyến khích, đẩy mạnh hoạt động thể dục - thể thao trình độ cao trong việc đào tạo, phát triển vận động viên chuyên nghiệp tham gia thi đấu khu vực và quốc tế; 13. Quản lý các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trung tâm, trường, sân thể thao theo quy định; 14. Khuyến khích, thúc đẩy, điều phối, giám sát, đánh giá công tác xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, nhân sự ngành giáo dục, thể thao và phát triển nhân lực các ngành theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn; 15.
Xây dựng và phát triển giáo trình, thiết bị, phương tiện dạy học và các phương tiện phục vụ công tác giáo dục, khoa học và thể thao; 16. Nghiên cứu, tìm tòi khoa học, công nghệ và thông tin, giáo dục và thể thao phù hợp với tốc độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và thể thao trong nước, khu vực và quốc tế trong từng thời kỳ; 17. Khuyến khích, quảng bá, nghiên cứu và phát triển các khóa học về công tác quản trị-quản lý và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành giáo dục, thể thao và các ngành khác, cả nhà nước và tư nhân, cũng như theo dõi, đánh giá từng giai đoạn; 18. Kiện toàn, hoàn thiện hệ thống tổ chức, xác định vai trò, nhiệm vụ, phạm vi quản lý quyền hạn và xác định vị trí việc làm của công chức từ trung ương đến địa phương theo sự phân công quản lý; 19.
Quản lý, lập kế hoạch đào tạo, xây dựng, tuyển dụng, tổng hợp, theo dõi, đánh giá công việc của công chức kể cả việc thăng tiến vai trò giới, thực hiện chính sách, khen thưởng, kỷ luật người lao động ngành giáo dục và thể thao theo quy định; 20. Quản lý, quản lý tài chính, tài sản, công văn, lập kế hoạch ngân sách, tổng hợp và báo cáo theo định kỳ; 5 CHƯƠNG 2: KIẾN THỨC NỀN TẢNG 2. Tổng quan về mạng máy tính Nhìn chung, tất cả các mạng máy tính đều có chung một số thành phần, chức năng và đặc tính nhất định. Đó là: Máy phục vụ (server) – máy cung cấp tài nguyên chung cho người dùng mạng.
Máy khác (client) – máy truy cập tài nguyên mạng dùng chung do máy phục vụ cung cấp. Phương tiện truyền dẫn (media) – cách thức và vật liệu nối máy tính. Dữ liệu dùng chung (shared data) – các tập tin do máy phục vụ cung cấp ngang qua mạng. Máy in và những thiết bị ngoại vi dùng chung khác – các tài nguyên khác do máy phục vụ cung cấp.
Tài nguyên (resource) – tập tin, máy in, hoặc những thành phần khác mà người dùng mạng sử dùng.1 Các thành phần chung của mạng máy tính Bất chấp những điểm tương đồng này, mạng máy tính vẫn được chưa làm bài loại rõ rệt: Ngang hàng (peer-to-peer) Dựa trên máy phục vụ (serer-based) 6 Hình 2.2: Sơ đồ tiêu biểu về mạng ngang hàng và mạng dựa trên máy phục vụ Sự phân biệt giữa hai loại mạng nói trên là rất quan trọng, bởi lẻ mỗi loại có những khả năng khác nhau. Loại mạng bạn sử dụng sẽ phụ thuộc vào vô số yếu tố, như là: Qui mô của tổ chức (tức công ty, văn phòng, v. Mức độ bảo mật cần có. Loại hình công việc.
Mực độ hỗ trợ có sẵn trong công tác quản trị. Nhu cầu của người dùng mạng. Ngân sách mạng. Khái niệm về mạng và nối mạng Ở mức độ cơ bản nhất, mạng (network) là hệ thống bao gồm từ hai máy tính trở lên nối với nhau bằng liên kết dữ liệu như cáp (cable) mạng hay phươn tiện không dây sao cho chúng có thể dùng chung dữ liệu.
Mọi mạng máy tính, cho dù có tinh vi phức tạp đến đâu chăng nữa, cũng đều bắt nguồn từ hệ thống đơn giản đó. Cái ý tưởng nối hai máy tính có vẻ chả có gì phi thường, nhưng nếu nhìn lại, thì đó chính là một thành tựu lớn lao trong công nghệ truyền thông. Mạng máy tính phát sinh từ nhu cầu muốn chia sẻ và dùng chung (share) dữ liệu. Máy tính cá nhân là công cụ tuyệt vời giúp tạo dữ liệu, bảng tính, hình ảnh và nhiều dạng thông tin khác, nhưng không cho phép bạn nhanh chóng chia sẻ dữ liệu bạn đã tạo nên.
Không có hệ thống mạng, dữ liệu phải được in ra giấy thì người khác mới có thể hiệu chỉnh hay sử dụng. Cùng lắm thì bạn chỉ có thể chép tập tin lên đĩa và trao đĩa 7 cho người khác chép vào mạng họ. Nếu người khác thực hiện thay đổi cho tài liệu thì bạn vô phương hợp nhất các thay đổi. Phương thức làm việc như thế còn được gọi là làm việc trong một môi trường độc lập (stand alone environment).3 Môi trường độc lập Nếu một người làm việc ở môi trường độc lập (xem hình) nối máy tính của mình với máy của nhiều người khác, người ta sẽ có thể sử dụng dữ liệu trên các máy khác và cả máy in.
Một nhóm máy tính và những thiết bị ngoại vi nối kết với nhau được gọi là mạng, còn khái niệm về các máy tính nối với nhau dùng chung tài nguyên được gọi là nối mạng (networking).4 Một hệ thống mạng đơn giản 8 Các máy tính cấu thành mạng có thể dùng chung những thứ sau: Dữ liệu Thông điệp Hình ảnh Máy fax Modem Các tài nguyên phần cứng khác Danh sách này không ngừng mở rộng, do con người thường xuyên tìm ra những cách thức mới giúp chia sẻ thông tin và giao tiếp bằng phương tiện máy tính. Mạng ngang hàng Ở hệ thống mạng ngang hàng, không tồn tại bất kỳ máy phục vụ chuyên dụng (dedicated server) hoặc cấu trúc phân cấp giữa các máy tính. Mọi máy tính đều “bình đẳng” và có vai trò như nhau. Thông thường, mỗi máy tính hoạt động với cả hai vai trò máy khách và máy phục vụ, vì vậy không có máy nào được chỉ định chịu trách nhiệm quản lý toàn mạng.
Người dùng ở từng máy tính tự quyết định dữ liệu nào trên máy của họ sẽ được dùng chung trên mạng.5: Các máy tính ở mạng ngang hàng kiêm cả hai vai trò máy khách và máy phục vụ 2.