Luận văn thạc sĩ về thuật toán điều khiển tích cực phản hồi cho kết cấu trong điều kiện đo hạn chế

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát triển thuật toán điều khiển tích cực phản hồi cho các kết cấu trong điều kiện đo hạn chế đáp ứng.

Trường đại học

Trường Đại Học Kỹ Thuật

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Cơ Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các khái niệm trong điều khiển tích cực

1.2. Máy kích động và các phương thức điều khiển

2. CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN KHÔNG HẠN CHẾ ĐO

2.1. Thuật toán điều khiển kinh điển LQR

2.2. Đặt bài toán

2.3. Lời giải tối ưu thực sự

2.4. Các hạn chế của thuật toán kinh điển LQR

2.5. Tính không hoàn toàn tối ưu

2.6. Khả năng khuyếch đại thời gian trễ

2.7. Đề xuất cải thiện thuật toán LQR bằng thuật toán hồi tiếp - dẫn tiếp

2.8. Đề xuất thuật toán nhận dạng kích động ngoài

2.9. Đề xuất cách xác định vị trí đặt lực tối ưu

3. CHƯƠNG 3: BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN KHÔNG HẠN CHẾ ĐẶT LỰC

3.1. Luật điều khiển dạng Kalman Bucy

3.2. Đặt bài toán

3.3. Hạn chế của luật điều khiển dạng Kalman Bucy

3.4. Đề xuất thuật toán nhận dạng kích động ngoài

3.5. Đề xuất cách xác định vị trí đặt đầu đo tối ưu

3.6. Đề xuất cải thiện điều khiển bằng thành phần dẫn tiếp

4. CHƯƠNG 4: BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU PHẢN HỒI ĐẦU RA

4.1. Phương pháp tách

4.2. Thuật toán điều khiển tối ưu kinh điển LQG

4.3. Các phiên bản điều khiển nâng cao

4.3.1. Phiên bản điều khiển nâng cao 1

4.3.2. Phiên bản điều khiển nâng cao 2

4.4. Ảnh hưởng của thời gian trễ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển thuật toán điều khiển tích cực

Phát triển thuật toán điều khiển tích cực cho các kết cấu là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong kỹ thuật điều khiển. Các thuật toán này giúp tối ưu hóa hiệu suất của hệ thống bằng cách điều chỉnh các lực tác động lên kết cấu. Việc hiểu rõ các khái niệm cơ bản và ứng dụng của thuật toán điều khiển là rất cần thiết để phát triển các giải pháp hiệu quả.

1.1. Khái niệm cơ bản về thuật toán điều khiển tích cực

Thuật toán điều khiển tích cực là phương pháp điều khiển mà trong đó các lực tác động được điều chỉnh để đạt được hiệu suất tối ưu. Các hệ thống này thường sử dụng các cảm biến để đo lường và máy kích động để thực hiện các điều chỉnh cần thiết.

1.2. Lịch sử phát triển và ứng dụng của thuật toán điều khiển

Lịch sử phát triển thuật toán điều khiển bắt đầu từ những năm 1960 với sự ra đời của các lý thuyết điều khiển hiện đại. Ngày nay, các thuật toán này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, giao thông và hàng không.

II. Vấn đề và thách thức trong phát triển thuật toán điều khiển tích cực

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực điều khiển tích cực, vẫn tồn tại nhiều thách thức cần giải quyết. Các vấn đề như hạn chế đo và hạn chế đặt lực điều khiển là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống.

2.1. Hạn chế đo trong hệ thống điều khiển

Hạn chế đo xảy ra khi số lượng cảm biến không đủ để xác định toàn bộ trạng thái của hệ thống. Điều này dẫn đến việc không thể điều khiển chính xác các lực tác động lên kết cấu.

2.2. Hạn chế đặt lực điều khiển

Hạn chế đặt lực điều khiển xảy ra khi không thể áp dụng lực vào tất cả các trạng thái của hệ thống. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của thuật toán điều khiển và gây ra sự không ổn định trong hệ thống.

III. Phương pháp phát triển thuật toán điều khiển tích cực hiệu quả

Để phát triển các thuật toán điều khiển tích cực hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu và công nghệ hiện đại. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng các mô hình toán học và công nghệ mô phỏng để tối ưu hóa thiết kế.

3.1. Mô hình hóa hệ thống điều khiển

Mô hình hóa là bước quan trọng trong việc phát triển thuật toán điều khiển. Các mô hình này giúp xác định các tham số cần thiết và dự đoán hành vi của hệ thống dưới các điều kiện khác nhau.

3.2. Sử dụng công nghệ mô phỏng để tối ưu hóa

Công nghệ mô phỏng, như MATLAB và SIMULINK, cho phép kiểm tra và tối ưu hóa các thuật toán điều khiển trước khi triển khai thực tế. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí trong quá trình phát triển.

IV. Ứng dụng thực tiễn của thuật toán điều khiển tích cực

Các thuật toán điều khiển tích cực đã được áp dụng thành công trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những ứng dụng này không chỉ giúp cải thiện hiệu suất mà còn tăng cường độ an toàn cho các kết cấu.

4.1. Ứng dụng trong xây dựng và công trình

Trong lĩnh vực xây dựng, thuật toán điều khiển tích cực được sử dụng để giảm thiểu dao động cho các công trình lớn như cầu và tòa nhà chọc trời, giúp tăng cường độ bền và an toàn.

4.2. Ứng dụng trong giao thông và hàng không

Trong giao thông và hàng không, các thuật toán điều khiển giúp tối ưu hóa hoạt động của các phương tiện, từ đó nâng cao hiệu quả và an toàn trong vận tải.

V. Kết luận và tương lai của thuật toán điều khiển tích cực

Tương lai của thuật toán điều khiển tích cực hứa hẹn sẽ có nhiều tiến bộ với sự phát triển của công nghệ và lý thuyết điều khiển. Việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới sẽ giúp giải quyết các thách thức hiện tại và mở ra nhiều cơ hội mới.

5.1. Xu hướng nghiên cứu trong tương lai

Các xu hướng nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc phát triển các thuật toán điều khiển thông minh hơn, có khả năng tự học và thích ứng với các điều kiện thay đổi.

5.2. Tác động của công nghệ mới đến thuật toán điều khiển

Công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và học máy sẽ có tác động lớn đến sự phát triển của thuật toán điều khiển, giúp cải thiện khả năng dự đoán và điều chỉnh trong thời gian thực.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Các khái niệm trong điều khiển tích cực Điều khiển tích cực nói một cách chung nhất là lĩnh vực nghiên cứu cách thiết kế một hệ thống có khả năng tác động vào một quá trình và buộc quá trình đó tuân theo một yêu cầu nhất định. Cách ứng xử của một quá trình được xác định bởi một hệ động lực mà trạng thái của nó theo thời gian sẽ phụ thuộc vào tương tác với môi trường và phụ thuộc vào các tương tác bên trong. Mối quan hệ giữa hệ động lực và môi trường ngoài có thể được hiểu bằng khái niệm đầu vào và đầu ra.

Các đầu ra là các biến đo thể hiện đáp ứng của hệ thống còn các đầu vào thể hiện kích động ngoài tác động vào hệ thống. Đầu vào được phân làm hai loại: nhiễu và điều khiển. Nhiễu là các tác động bên ngoài liên quan đến các kích động của tự nhiên và không thể điều khiển được. Bộ điều khiển là các hệ thống được thiết kế để thay đổi đầu vào sao cho đầu ra của hệ thống đạt được một số thể hiện mong muốn.

Điều khiển tích cực trong cơ học là một trường hợp riêng của điều khiển tích cực, trong đó các hệ động lực được mô tả bởi các phương trình chuyển động. Đầu ra là các đại lượng cơ học như dịch chuyển, vận tốc,gia tốc. Đầu ra được đo bằng các bộ cảm biến. Đầu vào nhiễu được sinh ra bởi các tác động của môi trường như gió, động đất, sóng, va chạm, phương tiện vận tải hay bất kỳ các nguồn gây dao động nào khác.

Đầu vào điều khiển là các đại lượng cơ học như lực, mômen, gia tốc,. được tạo ra bởi các máy kích động thích hợp. Sơ đồ của một hệ được điều khiển tích cực được cho trên Hình 1. Một hệ thống điều khiển tích cực bao gồm 3 phần chính: các cảm biến để đo đáp ứng hoặc kích động ngoài hoặc cả hai, bộ điều khiển là các máy tính được tích hợp các thuật toán điều khiển thích hợp và các máy kích động sinh lực tác động vào hệ cần được điều khiển.

10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cảm biến đo Bộ điều khiển Cảm biến đo Tín hiệu điều khiển Máy kích động Lực điều khiển Kích động ngoài Hệ được điều khiển Đáp ứng tích cực Hình 1.1: Sơ đồ khối của một hệ điều khiển tích cực Bộ điều khiển được coi như một bộ xử lý thông tin để khép kín vòng lặp điều khiển. Vai trò của bộ điều khiển là cung cấp tín hiệu điều khiển như một hàm của các tín hiệu đo. Vì vậy, khi thiết kế, bộ điều khiển được coi như một đối tượng toán học và được mô tả trong khuôn khổ của lý thuyết điều khiển nói chung. Nếu đầu vào của hệ được điều khiển (tức là kích động ngoài) được giám sát và điều khiển thì người ta gọi hệ là được điều khiển mở (open-loop control) hay điều khiển dẫn tiếp (feedforward control).

Nếu đầu ra của hệ được điều khiển (tức là các đáp ứng) được giám sát và điều khiển thì người ta gọi hệ là được điều khiển đóng (closed-loop control) hay điều khiển hồi tiếp hoặc phản hồi (feedback control). Trường hợp cả đầu vào và đầu ra của hệ được giám sát và điều khiển thì sẽ dẫn tới khái niệm điều khiển đóng mở (closed-open loop control) hay điều khiển hồi tiếp-dẫn tiếp (feedback-feedforward control). Về mặt vật lý, hiệu quả của điều khiển hồi tiếp là làm thay đổi các tham số của kết cấu (độ cứng và độ cản) để kết cấu có thể phản ứng tốt hơn với kích động ngoài. Trong khi đó, hiệu quả của điều khiển dẫn tiếp là làm giảm bớt hoặc triệt tiêu hoàn toàn kích động ngoài.

Một vòng lặp của điều khiển tích cực trải qua 3 bước bao gồm đo đạc, xử lý tín hiệu và sinh lực điều khiển. Hiệu quả của điều khiển phụ thuộc vào khả năng thực hiện chính xác 3 bước này. Các yếu tố quyết định bao gồm công nghệ cảm biến [Lynch 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vcs 2006], khả năng xử lý của máy tính, thuật toán điều khiển thích hợp, khả năng, độ chính xác và tốc độ của máy kích động cũng như hiệu quả của cơ cấu tác động lực, công nghệ vật liệu mới và cơ khí chính xác. Máy kích động và các phương thức điều khiển 1.

Các loại máy kích động Tất cả các thiết bị khi được điều khiển có khả năng sinh lực đều được coi là máy kích động. Máy kích động có nhiều loại với nguyên lý hoạt động và khả năng sinh lực khác nhau, phụ thuộc vào ứng dụng cụ thể. Có những loại cỡ rất nhỏ ứng dụng trong các lĩnh vực của cơ điện tử, lại có những loại cỡ rất lớn ứng dụng trong điều khiển kết cấu công trình. Trong số các dạng máy kích động cỡ lớn có thể kể đến các loại sau - Máy kích động dạng thuỷ lực sinh ra lực bằng cách tạo ra áp suất trên bề mặt của đầu pittông trong xi lanh nhờ vào dòng chất lỏng được bơm vào hoặc ra xy lanh.

Loại này có khả năng lớn nhất khoảng vài trăm meganewton. - Máy kích động dạng môtơ điện sinh lực nhờ vào chuyển động quay của các mô tơ điện. Nếu cần thiết, máy kích động loại này có thêm hệ thống truyền động biến chuyển động quay thành chuyển động tịnh tiến. Loại này có khả năng lớn nhất khoảng vài trăm kilonewton.

- Máy kích động dạng điện từ là loại máy kích động không sử dụng sự tương tác giữa các thiết bị cơ khí mà sử dụng lực từ giữa 2 dòng điện. Loại này có khả năng lớn nhất khoảng vài kilonewton. - Ba loại máy kích động kể trên được phát triển trong nhiều lĩnh vực điều khiển chuyển động và đã được nghiên cứu khá nhiều về mặt công nghệ để có thể trở thành sản phẩm thương mại. Hiện nay, người ta cũng đang phát triển các loại máy kích động mới dựa trên các bộ giảm chấn có van đóng mở [Feng vcs 1990, Kurata vcs 1994, Sack vcs 1993] hoặc dựa trên các vật liệu thông minh.

Các vật liệu thông minh có thể kể đến bao gồm chất lỏng từ biến (magnetorheological fluids) có khả năng thay đổi tính chất khi thay đổi từ trường [Carlson vcs 1996, Spencer vcs 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1998a], vật liệu áp điện (piezzoelectric material) có khả năng biến dạng khi chịu dòng điện [Ikeda 1997, Crawley 1987], vật liệu nhớ hình dạng (shape memory alloy) có khả năng thay đổi hình dạng khi đốt nóng hoặc làm lạnh [Wayman vcs 1972, Fremond vcs 1996]. Các loại máy kích động này có chung ưu điểm là rất dễ điều khiển nhưng có một số nhược điểm như lực kích động luôn ngược chiều với vận tốc chuyển động, khả năng sinh lực lớn còn hạn chế và giá thành của các vật liệu thông minh còn khá cao. Các phương thức sinh lực điều khiển Về nguyên lý cơ học, khi hệ cần được điều khiển dao động thì một cơ cấu bất kỳ có khả năng sinh công cơ học đều có thể tạo ra lực điều khiển. Cơ cấu nào có khả năng sinh công càng cao thì hiệu quả điều khiển càng tốt.

Có 3 phương thức chính để tạo ra lực điều khiển: - Phương thức tác động lực thứ nhất tạo ra lực điều khiển là ngoại lực từ bên ngoài tác động vào hệ cần được điều khiển. Chẳng hạn, trên Hình 1.2a là sơ đồ một cách tác động lực vào cầu để giảm dao động thẳng đứng gây ra bởi phương tiện. Máy kích động có một đầu tì vào mố cầu, một đầu gắn vào dầm cầu. Trong quá trình dao động, điểm đặt của lực điều khiển tại dầm cầu dao động còn điểm đặt tại mố cầu đứng yên.

Vì vậy cơ cấu này sinh công và có thể dùng để điều khiển dao động. Tương tự như vậy, trên Hình 1.2b máy bay phản lực cũng được điều khiển bởi ngoại lực là lực tác động của khối khí phụt về phía sau u u a) b) Hình 1.2: Phương thức tác động lực từ bên ngoài - Phương thức tác động lực thứ hai tạo ra lực điều khiển giữa 2 bộ phận chuyển động tương đối với nhau bên trong hệ cần được điều khiển. Chẳng hạn với 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết cấu khung trên Hình 1.3a , khi kết cấu dao động, 2 điểm đặt của lực điều khiển đều dao động nhưng không giống nhau. Vì vậy, tổng công do lực điều khiển sinh ra tại 2 điểm đặt là khác 0 và cơ cấu có thể dùng để điều khiển dao động.

Tuy nhiên, hiệu quả của điều khiển phụ thuộc vào chuyển động tương đối giữa 2 điểm đặt. Khi kết cấu khung quá cứng thì 2 điểm đặt chuyển động gần như nhau. Do lực điều khiển tại 2 điểm đặt là ngược chiều nên dù lực điều khiển có rất lớn thì tổng công sinh ra vẫn nhỏ và hiệu quả điều khiển thấp. Một cơ cấu điều khiển dạng này cũng có thể thấy ở bánh lái của máy bay hay bánh lái của tàu thuỷ.3b, khi bánh lái quay sẽ tạo ra chuyển động tương đối giữa bánh lái và máy bay, mômen điều khiển dùng để quay bánh lái sẽ sinh công và như thế cơ cấu bánh lái có thể dùng để điều khiển.3: Phương thức điều khiển qua chuyển động tương đối - Phương thức tác động lực thứ ba là tạo ra lực điều khiển giữa hệ cần được điều khiển và một khối lượng phụ gắn thêm.

Chẳng hạn, trên Hình 1.4a là cơ cấu tạo ra lực điều khiển để giảm dao động ngang của kết cấu. Khi kết cấu và khối lượng phụ có dao động tương đối với nhau thì lực điều khiển sẽ sinh công. Chú ý rằng với cơ cấu trên Hình 1.4a thì lực điều khiển sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng và gia tốc hệ phụ. Do đó để công sinh ra đủ lớn thì khối lượng của hệ phụ cũng phải đủ lớn.4b cũng là một cách thức tương tự nhưng hệ phụ lúc này không 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển động tịnh tiến mà chuyển động quay.

Mômen điều khiển sẽ sinh công qua chuyển động tương đối giữa hệ phụ và hệ cần được điều khiển. u Hệ phụ a) b) Hình 1.4: Phương thức điều khiển nhờ lực quán tính Như vậy bài toán tìm cơ cấu điều khiển thích hợp rõ ràng là một vấn đề cần có sự nghiên cứu. Một cơ cấu điều khiển tốt nếu nó có khả năng sinh công cao, tức là sinh được lực lớn nhưng phải trên một chuyển động đủ dài.Ví dụ về các hệ điều khiển tích cực cỡ lớn trong thực tế Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng thì điều khiển tích cực là một bài toán rất phức tạp vì nó đòi hỏi cơ cấu sinh lực tương đối lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ