Chương 1 đến 24 của Hệ thống hài hòa và các nguyên liệu nông nghiệp thô/các sản phẩm chưa chế biến tương tự được nêu trong các đề mục của Hệ thống cân đối; và các sản phẩm đã qua sơ chế những hình thức không thay đổi nhiều so với sản phẩm gốc. Theo hiệp định nông nghiệp, các hiệp định và nguyên tắc WTO, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: (i) Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như: lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi; (ii) Các sản phẩm phái sinh: như bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt; (iii) Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô. Hiện nay, cách hiểu về nông sản có phần thu hẹp hơn, tập trung chủ yếu vào sản phẩm thu được từ đất, khi đó nông sản được hiểu là sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất đất đai. Ngoài ra, nông sản được định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3, Nghị định 57/2018/NĐ-CP:“Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp” 8 Tổng hợp từ các quan điểm trên cho thấy: “Nông sản là sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi”.
Đây là khái niệm tác giả sẽ dùng để sử dụng trong đề án. Tuy nhiên để phù hợp với nội dung nghiên cứu, đề án sẽ đi sâu nghiên cứu với một số mặt hàng nông sản cụ thể thuộc nhóm cây công nghiệp, cây ăn quả. Nông sản bao gồm những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của người dân ở mỗi vùng, đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Do vậy, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp như có tính thời vụ, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, có tính đa dạng cả về chủng loại và chất lượng.
Sản phẩm chủ lực Sản phẩm chủ lực là khái niệm mới và đã xuất hiện trong một số văn bản quản lý nhà nước vào những năm 2000. Lúc đầu, đây chỉ là thuật ngữ để chỉ những sản phẩm có khả năng xuất khẩu mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao, có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế và là thế mạnh của đất nước so với thị trường quốc tế. Gần đây, khái niệm này được dùng phổ biến hơn và đã trở thành thuật ngữ kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Nguyễn Hồng Gấm (2013) đưa ra định nghĩa về sản phẩm chủ lực trong nghiên cứu của mình như sau:“Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ”.
Đây cũng là khái niệm mà tác giả tiếp cận và sử dụng trong đề án. Sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm quốc gia; - Đối với những sản phẩm không nằm trong danh mục sản phẩm quốc gia, cần đáp ứng yêu cầu sau: (i) đảm bảo phù hợp với định hướng cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; (ii) có lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh vượt trội so với các sản phẩm nông nghiệp khác trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế; (iii) có tiềm năng về quy mô và tốc độ tăng trưởng ở thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế; (iv) thu hút được các nguồn lực đầu tư để tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng khoa học công 9 nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; (v) thu hút lao động trong nông nghiệp, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động; (vi) có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, trên thế giới, đã có nhiều quốc gia xác định sản phẩm nông sản chủ lực để khuyến khích phát triển. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có bộ chỉ số thống nhất nào để xác định sản phẩm nông nghiệp chủ lực giữa các quốc gia trên thế giới.
Thay vào đó, tùy theo từng điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như mục tiêu về chính trị, an sinh xã hội của mỗi quốc gia mà các nước này lựa chọn sản phẩm nông sản chủ lực để tập trung phát triển (Tuệ Văn, 2019). Các chỉ tiêu chính được sử dụng để xác định các sản phẩm được đưa vào trở thành nông sản chủ lực bao gồm: Nhóm tiêu chí về kinh tế: gồm các tiêu chí như Quy mô sản xuất của ngành sản phẩm nông nghiệp chủ lực (tiêu chí 1); Tiềm năng thị trường (tiêu chí 2); Có lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế (tiêu chí 3) Tiêu chí về xã hội: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực thu hút lao động, tạo thu nhập ổn định cho người lao động (tiêu chí 4); Tiêu chí về môi trường: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực phải thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu (tiêu chí 5) Nhóm tiêu chí về sản phẩm ưu tiên phát triển: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực phải phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ và Nhà nước (tiêu chí 6) Theo Thông tư số 37/2018/TT-BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia bao gồm 13 sản phẩm: (1) Gạo; (2) Cà phê; (3) Cao su; (4) Điều; (5) Hồ tiêu; (6) Chè; (7) Rau, quả; (8) Sắn và sản phẩm từ sắn; (9) Thịt lợn; (10) Thịt và trứng gia cầm; (11) Cá tra; (12) Tôm; (13) Gỗ và sản phẩm từ gỗ. Dựa trên khái niệm về sản phẩm chủ lực của quốc gia, các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh là những sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của từng tỉnh, đồng thời cũng tạo ra lợi thế so sánh cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm này. Danh mục nông sản chủ lực của từng tỉnh có thể nằm trong danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực của quốc gia, hoặc là không.
Nếu như danh mục sản phẩm của tỉnh nằm trong danh mục sản phẩm Quốc gia, nghĩa là sản phẩm đó có thể có thị trường rộng hơn, trên toàn quốc gia và có khả năng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Quản lý nhà nước về xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản chủ lực Quản lý là một hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế - xã hội. Nó xuất hiện là tất yếu do lao động mang tính tập thể và các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội quyết định. Có nhiều cách trình bày, diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng phổ biến có hai cách tiếp cận sau: Tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào đối tượng quản lý nhằm đạt kết quả tốt nhất theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý thích hợp.
Tiếp cận thứ hai: Quản lý được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: đầu vào, đầu ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu của quản lý. Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý phải giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hưởng tới hiệu quả và hiệu lực của quản lý.
Hai cách tiếp cận trên được nghiên cứu và vận dụng không chỉ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, mà cả trong các lĩnh vực khác như văn hóa và xã hội, an ninh và quốc phòng, không chỉ giới hạn nghiên cứu trên tầm vĩ mô, mà cả phạm vi các đơn vị vi mô là tổ chức, doanh nghiệp. Hiện nay trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật không có định nghĩa cụ thể cho quản lý nhà nước, tuy nhiên, theo từ điển luật học giải thích về quản lý nhà nước như sau: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.” Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: Quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước bằng quyền lực của mình nhằm tổ chức, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của các chủ thể để đạt được các mục tiêu đề ra.
Công tác quản lý nhà nước không chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước mà còn có sự chung tay hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể và nhân dân góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 11 Hiện nay trong các văn bản luật chưa có khái niệm chính xác về Quản lý nhà nước về xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản chủ lực, tuy nhiên, từ các khái niệm được đề cập trên, có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý nhà nước về xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản chủ lực là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên lĩnh vực xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản chủ lực để đảm bảo việc thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này tuân thủ các quy định của pháp luật, đạt hiệu quả cao, phát huy các tiềm năng, thế mạnh của vùng miền.