MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện các chủ trương, chính sách của trung ương về công tác hội nhập quốc tế, bên cạnh việc phổ biến cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trong tỉnh để nâng cao nhận thức, hiểu rõ quan điểm của Chính phủ về hội nhập, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (BRVT) luôn tích cực, chủ động xây dựng thương hiệu tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trở nên hấp dẫn và thu hút trên thị trường quốc tế. Nội dung của các hoạt động xây dựng thương hiệu đều thể hiện rõ sự quyết tâm của Lãnh đạo và nhân dân tỉnh BRVT trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội trong thời kỳ hội nhập nhằm xây dựng và phát triển BRVT trở thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du lịch. Bên cạnh đó, tỉnh BRVT đã và đang triển khai, thực hiện nhiều giải pháp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường theo chỉ đạo của Chính phủ.
Mục tiêu là xây dựng chính quyền tỉnh BRVT gắn với các giá trị liêm chính, kiến tạo, phục vụ người dân phát triển cuộc sống và doanh nghiệp phát triển thị trường. Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả QLNN trong việc thực hiện pháp luật, UBND tỉnh BRVT đã ban hành quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính trên địa bàn tỉnh BRVT nhằm kịp thời xử lý, giải quyết các vướng mắc. Các nhiệm vụ của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được áp dụng triển khai hiệu quả, đồng bộ và chủ động. Ngày 9/7/2021, UBND tỉnh BRVT đã ban hành Quyết định số 1978/QĐUBND phê duyệt kế hoạch thực hiện “Chính quyền thân thiện, vì nhân dân phục vụ” trên địa bàn tỉnh BRVT.
Các chỉ số: năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), hội nhập kinh tế quốc tế (PEII), cải cách hành chính (PAR INDEX) được nâng cao điểm số và thứ hạng, được doanh nghiệp và người dân đánh giá cao. Tỉnh BRVT thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc vùng Đô thị Thành phố HCM, có vai trò quan trọng về kinh tế và xã hội đối với khu vực. BRVT luôn đi đầu trong phát triển và tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước 12 ngoài, khuyến khích đầu tư trong nước và tăng cường xuất khẩu các mặt hàng tiềm năng. Có vị trí cửa ngõ ra biển Đông của vùng Đông Nam Bộ, BRVT kết nối thuận lợi với Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường sông, đường biển.
Tỉnh BRVT là điểm kết nối quan trọng của khu kinh tế trọng điểm phía Nam với thế giới bên ngoài thông qua hệ thống cảng biển quốc tế. BRVT có trữ lượng lớn dầu mỏ đang được khai thác, đồng thời cũng là trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng của Việt Nam. Trong định hướng phát triển, BRVT trở thành trung tâm cảng biển chính, kết nối tuyến đường giao thương Việt Nam – Thế giới, điểm cuối của Hành lang kinh tế Đông Tây. Bên cạnh đó, về lĩnh vực du lịch, tỉnh BRVT còn là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu của cả nước.
UBNT tỉnh BRVT thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 2020 trong bối cảnh tình hình trong nước và trên thế giới có nhiều biến động, giá dầu thô biến động mạnh, nhóm ngành công nghiệp cơ khí và dịch vụ hoạt động khai thác, thăm dò dầu khí bị ảnh hưởng; diễn biến thời tiết phức tạp, dịch bệnh có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân. Dịch bệnh Covid 19 diễn ra trong các năm 20202021 có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Tốc độ tăng trưởng GRDP (trừ tính dầu thô và khí đốt) bình quân 6,1%/năm (thấp hơn so với Nghị quyết là tăng 7%/năm). GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đến năm 2020 ước đạt 6.903 USD/người (trừ dầu thô và khí đốt), tăng 1,3 lần so với năm 2015 nhưng vẫn thấp hơn chỉ tiêu Nghị quyết tỉnh đặt ra.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng; cơ cấu kinh tế năm 2020: nông nghiệp chiếm 11,98%, giảm 0,85% so với 2015, dịch vụ chiếm 29,36%, giảm 2,88% so với 2015 và công nghiệp – xây dựng chiếm 58,66%, tăng 3,73% so với 2015. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 9,29%/năm giai đoạn 20162020. Trong tổng số 16 chỉ tiêu kinh tế thì có 9 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết đặt ra còn 7 chỉ tiêu không đạt mục tiêu đặt ra. Phần lớn các nguyên nhân đến từ ảnh hưởng của các yếu tố thiên nhiên, môi trường, dịch bệnh và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Căn cứ theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của BRVT giai đoạn 2020 13 2025, đến năm 2025 tỷ lệ đô thị hóa đạt 63,5% để trở thành đô thị cảng lớn nhất của cả nước, là trung tâm logistics và công nghiệp quan trọng của cả nước, đặc biệt là công nghiệp năng lượng. Để thu hút nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP (không tính dầu khí) bình quân từ 7,6%/năm giai đoạn 20202025, tỉnh BRVT phải có một chiến lược xây dựng thương hiệu tỉnh sao cho thu hút và hấp dẫn. Tuy nhiên, ngay trong Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (20162020) và phương hướng 5 năm (20212025) đều không có nội dung đánh giá về thực trạng thương hiệu tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng như phương hướng xây dựng thương hiệu tỉnh BRVT trong giai đoạn tới. Điều này kéo theo một hệ quả là khi bản thân tỉnh BRVT chưa định vị và hiểu thực trạng thương hiệu của tỉnh thì cũng khó có thể xây dựng được thương hiệu tỉnh để trở thành một Đô thị cảng thu hút trong khu vực và trên thế giới.
Từ năm 2017, Tỉnh ủy Bà Rịa Vũng Tàu đã ban hành 2 Nghị quyết quan trọng, thứ nhất là Nghị quyết số 08NQ/TU ngày 28/7/2017 về phát triển cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 và thứ hai là Nghị quyết số 09NQ/TU ngày 27/12/2017 về phát triển du lịch chất lượng cao tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giai đoạn 20172020, định hướng đến năm 2030. Hai Nghị quyết này phản ánh tầm nhìn phát triển kinh tế tỉnh theo 2 hướng song song (1) Đô Thị Cảng và (2) Du lịch, nhằm mục tiêu kết hợp hài hòa các lợi thế nhằm đạt được sự tăng trưởng bền vững cho địa phương. Ý thức được việc cần phải có các hoạt động truyền thông nhằm thu hút nguồn lực cho phát triển, ngày 16/10/2018, Tỉnh ủy Bà Rịa Vũng Tàu tiếp tục ban hành Nghị quyết số 13NQ/TU về truyền thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 20182020, tầm nhìn đến 2025. Trên tinh thần đó, Hội đồng nhân tỉnh thông qua Nghị quyết số 24/NQHĐND ngày 18/7/2019 phê duyệt “Đề án Truyền thông tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giai đoạn 20192025”.
Trong năm 2021, lần đầu tiên UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thực hiện phê duyệt một gói ngân sách riêng khoảng 15 tỷ VNĐ cho Đề án Truyền thông tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tại Kế hoạch số 72/KHUBND ngày 29/4/2021. Hầu hết các hoạt động chi tiêu đều chưa có đánh giá kết quả, tuy nhiên, nội dung các hoạt động tuyên truyền mới chỉ tập trung vào đưa tin trên các kênh báo chí trong nước về các hoạt động tích cực của tỉnh. Trong khi đó, 2 14 năm dịch Covid19 đã có ảnh hưởng rất tiêu cực đến lượng du khách và thu hút đầu tư cũng như nguồn thu ngân sách của tỉnh, đặc biệt với các ngành du lịch và dịch vụ trước đây là ưu thế thì hiện nay lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng do dịch Covid19 đem lại. Bản thân tỉnh BRVT đã ý thức được việc xây dựng hình ảnh về BRVT chưa cụ thể, chưa mang tính rõ nét về tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Việc quảng bá tỉnh BRVT thiếu tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch và sự đồng bộ giữa các cấp, các ngành và các lĩnh vực. Do thiếu tính đồng bộ nên các hoạt động tự phát còn rời rạc và không đem lại hiệu quả tổng thể, nhiều khi còn kìm hãm lẫn nhau. Đồng thời các hoạt động còn mang tính ngắn hạn theo kế hoạch năm mà thiếu cái nhìn lâu dài và kế hoạch dài hạn. Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, từng kế hoạch đơn lẻ của các cấp, các ngành thiếu sự liên kết, bản thân các đề án và kế hoạch riêng lẻ cũng thiếu sự liên kết với nhau.
Việc xây dựng thương hiệu, marketing địa phương do sở kế hoạch và đầu tư (xúc tiến đầu tư), sở công thương (trung tâm xúc tiến thương mại) thực hiện là chủ yếu, chưa bao gồm nhiều lĩnh vực khác và chưa huy động cả hệ thống chính trị tham gia, chưa huy động được nguồn lực từ doanh nghiệp và người dân cùng tham gia. Chưa có những sự kiện nổi bật, các festival đặc trưng, thường niên làm điểm nhấn quảng bá về BRVT trong và ngoài nước. Chưa gây ấn tượng sâu sắc và định vị rõ ràng, nổi trội các khác biệt đối với du khách, doanh nhân về BRVT. Tuy vậy, khi xem xét triển khai các hoạt động mang tính đồng bộ từ nội hàm đến thông điệp và hình ảnh truyền tải, việc lựa chọn kênh truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng mục tiêu theo từng giai đoạn thì sự phối hợp vẫn còn chưa thực sự nhuần nhuyễn.
Việc tổ chức cung cấp thông tin và truyền thông vẫn mới chỉ phản ánh thông tin thông báo một chiều chủ động từ phía tỉnh đến công chúng trong nước, đặc biệt các độc giả của các kênh báo chính thống (Báo nhân dân, VTV, VOV, Truyền hình thông tấn xã Việt Nam, Báo Pháp luật Việt Nam, Báo Tiền phong, Báo nông thôn ngày nay, Báo Vietnamnet, Báo Thanh niên, Báo Sài gòn giải phóng, Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, Báo Tuổi trẻ, Báo Người lao động, Tạp chí 15 Cộng sản, Báo điện tử Đảng Cộng sản, Báo Vnexpress, Báo Lao động, Báo Bà Rịa Vũng Tàu, Truyền hình VTC10) chứ chưa lựa chọn từng kênh phù hợp với từng đối tượng mục tiêu phù hợp cho tỉnh. Đồng thời, nguồn lực ngân sách hạn chế nhưng lại dàn trải nên hiệu quả cho việc chi tiêu không cao, chủ yếu chỉ nhằm mục tiêu hiện diện thông tin trên các kênh báo chí nhà nước chính thống. Bên cạnh đó, các thách thức mà tỉnh gặp phải cũng tạo ra các áp lực đối với triển khai đạt mục tiêu kinh tế xã hội giai đoạn 20212025.