Chương 1 XÂY DỰNG PHONG CÁCH NGƯỜI BÍ THƯ ĐẢNG UỶ XÃ Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. ĐẢNG BỘ XÃ VÀ NGƯỜI BÍ THƯ ĐẢNG UỶ XÃ Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ 1. Xã, vị trí, vai trò, đặc điểm của các xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá + Khái niệm về xã ở Viêt Nam: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở các vùng nông thôn Việt Nam. Xã gồm nhiều làng, bản, buôn, ấp, xóm.
Dân cư trong xã thường có một số dòng họ cùng chung sống lâu đời, từ thời kỳ đất Giao Châu khởi đầu có tên là An Nam thuộc nhà Đường cai trị đã hình thành cấp xã (trên xã là hương, huyện, châu). Cấp xã tồn tại lâu dài trong lịch sử (thời kỳ nhà Đinh trên xã là giáp, các thời kỳ sau này, trên xã là tổng, phủ, Huyện, v. Bộ máy lãnh đạo và quản lý ở cấp xã gồm có hội đồng kỳ mục, ra đời từ thời nhà Trần, tồn tại đến các thời Lê, Nguyễn. Sau những cải cách hướng chính của người Pháp (từ đầu đến giữa thế kỷ 20), hội đồng kỳ mục đổi tên là hội đồng tộc biểu, nhưng về sau chính quyền thực dân Pháp phải trả lại tên cũ là hội đồng kỳ mục ở Nam Bộ là hội đồng hương chính, Hội đồng là cơ quan quyết nghị, với nhiệm kỳ 3 năm hoặc 6 năm, kì dịch gồm có các xã quan, xã trưởng (thời Lê) hoặc lý Trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quĩ, thủ lộ, thủ lại.
Kì dịch là những người chấp hành của hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu v. các kì dịch có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm (thời kì đầu nhà Trần) đến triều Lê (thế kỷ thứ 15) do xã tự chọn, quan đầu hạt duyệt y, Bộ lại cấp bằng: trong thời kỳ Pháp thuộc, các kì dịch do dân bầu, nhưng phải được đại diện chính phủ bảo hộ phê chuẩn. 10 Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn trong hệ các cấp hành chính của Việt Nam. Hệ thống chính trị ở xã có đảng uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (có thời kỳ gọi là uỷ ban hành chính, Uỷ ban kháng chiến hành chính) Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức chỉ đạo nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Theo niên giám thống kê năm 2005 của Tổng cục thống kê (bản tóm tắt) đến cuối 2005 cả nước có 8.947 xã; 1026 phường; 565 thị trấn tương đương cấp xã. Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, với diện tích tự nhiên 22,79km2, trong đó diện tích nông nghiệp 14,500ha, dân số của huyện là 280.000 người, trong đó 81% lao động là nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp độc canh, trình độ dân trí thấp, sản xuất hàng hoá nhiều xã chưa phát triển.
Các xã ở huyện Quảng Xương được hình thành từ các thôn, làng; dân cư gồm một số dòng họ, chung sống với nhau lâu đời. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, các xã ở huyện Quảng Xương tương đối ổn định. Sau khi Thị xã Sầm Sơn thành lập một số xã của huyện Quảng Xương đã tách ra và thuộc về đơn vị hành chính Thị xã Sầm Sơn. Quá trình phát triển của xã hội, một số xã của huyện lại nhập về Thành phố Thanh Hoá, mặc dù đã có 6 xã chuyển về Thị xã Sầm Sơn và Thành phố Thanh Hoá nhưng Quảng Xương vẫn là huyện có nhiều xã (40 xã và 01 thị trấn) đứng thứ hai sau huỵện Hoằng Hoá về số xã.
Trong số 40 xã của huyện thì có 9 xã nằm sát biển Đông, dân cư vùng này khá đông và họ chủ yếu là gắn bó với nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, 32 xã còn lại chủ yếu là trồng lúa nước, chăn nuôi, trồng cói và làm một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Hầu hết các xã ở huyện Quảng Xương đều có đảng bộ, có nhiều xã đảng bộ rất đông chi bộ cơ sở và số lượng đảng viên, tiêu biểu như đảng bộ xã 11 Quảng Ngọc có gần tới 400 đảng viên. Các xã ở huyện Quảng Xương ngoài các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, còn có các tổ chức tự quản của nhân dân thôn, tổ nhóm. Các xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đây là cấp chấp hành, làm cầu nối trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với dân, hàng ngày tiếp xúc và làm việc với dân, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của các đường lối, chủ trương, chính sách; là nơi tổ chức các phong trào quần chúng nhân dân, phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Các xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá là nơi tập trung hầu hết dân cư, lực lượng lao động, là nơi trực tiếp tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo ra sản phẩm hàng hoá phục vụ đời sống và xuất khẩu. Các xã ở huyện Quảng Xương còn là nơi diễn ra hàng ngày các hoạt động văn hoá, giáo dục, nơi lưu giữ các giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương, vì vậy phải xem xã là nơi giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Truyền thống quí báu của dân tộc sẽ được khơi dậy và phát huy từ xã, xây dựng đoàn kết, sức mạnh của dân tộc củng phải bắt đầu từ xã; sức mạnh của quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân củng bắt đầu từ xã. Muốn giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cũng phải bắt đầu từ xã.
Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của xã, ở huyện Quảng Xương phải chăm lo xây dựng xã thực sự là nền tảng, phải xác định xã là một xã hội thu nhỏ, ở đó diễn ra đầy đủ các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… Hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức xã hội… quan tâm xây dựng xã và phát triển toàn diện là trách nhiệm của cả 12 hệ thống chính trị, ý thức tự giác trách nhiệm của mỗi người dân các xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. * Đặc điểm các xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá: + Về đặc điểm tự nhiên: Quảng Xương thuộc khu vực ven biển lọt vào giữa hai cửa sông lớn, sông Mã và sông Yên, 40 xã ở huyện Quảng Xương đều hình thành muộn bởi vì hầu hết các xã được hình thành dải cồn thuộc phía Đông và Tây quốc lộ 1A., trong qúa trình tràn xuống chiếm lĩnh đồng bằng, những dải cồn ven biển là mục tiêu của tổ tiên chúng ta. Trải qua lao động, vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, phát triển những tụ điểm dân cư được hình thành quy tụ thành xóm, làng. Khí hậu các xã ở huyện Quảng Xương có 4 mùa rõ rệt, nhưng với khí hậu hà khắc của Bắc miền Trung, nắng lửa, mưa dầm, bão lụt, hạn hán là chuyện thường xuyên xảy ra với địa phương nơi đây.
Các xã ở huyện Quảng Xương thuộc vùng Đồng Bằng ven biển tỉnhThanh Hoá, hàng năm chịu từ 4-5 cơn bão lớn, thường tập trung vào tháng 7- 8 âm lịch. Nhiệt độ trung bình hàng năm là (24 0C) tháng có nhiệt cao nhất là tháng 5 (âm lịch) khoảng 36- 37 0C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 âm lịch. Đất đai 40 xã ở huyện Quảng Xương nhìn chung bằng phẳng, thấp dần về phía Tây Nam, được hình thành qua quá trình biển tiến, biển thoải và được phù sa của hai con sông lớn, đó là sông Mã và sông Yên trên nền tảng của tự nhiên, con người đã đến đây khai phá, quai đê lấn biển, bồi trúc hàng thế kỷ mà trở thành vùng đất 40 xã hiện nay. + Về đặc điểm kinh tế: Nền kinh tế chủ đạo của 40 xã là nông nghiêp - kết hợp với công nghiệp và dịch vụ.
Trong quá khứ nền kinh tế của các xã huyện Quảng Xương chủ yếu là thuần nông tự túc, tự cấp với nghề trồng lúa nước, đánh bắt hải 13 sản, trồng cói, làm muối và một số xã làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Trong những năm qua nền kinh tế đã có những chuyển đổi mau chóng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các ngành, vùng, đã tạo màu sắc phong phú cho nền kinh tế các xã ở huyện Quảng Xương, hàng loạt các xã đã đưa các giống cây, con mới vào sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú; hàng loạt các chợ làng từ lâu đời nay đã nâng cấp thành các Trung tâm thương mại hàng hoá sôi động như Trung tâm thương mại chợ Môi Quảng Tâm, Trung tâm Thương mại Sô Tô Quảng Lợi, Trung tâm thương mại Thị trấn Lưu Vệ và các chợ như: chợ Bùi Quảng Giao, chợ Voi Quảng Thịnh, chợ Ghép Quảng Chính, chợ Hội Quảng Ngọc, chợ Lưu Vệ Quảng Tân, chợ Quán Quảng Lưu, chợ Đình Quảng Lộc, chợ Lăng Quảng Yên… Các ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ thương mại đã có bước phát triển và dành được những kết quả bước đầu. Ngành công nghiệp phát triển chủ yếu như ở Quảng Tân, Quảng Ngọc, Quảng Tâm, Quảng Thọ, Quảng Châu, Quảng Lợi.
Nhìn chung cơ sở công nghiệp của huyện Quảng Xương tăng về cả số lượng và chất lượng, đồng thời qui mô luôn được mở rộng. Hiện nay có 3 cụm công nghiệp, 10 cơ sở công nghiệp có vốn hoạt động lên đến 10 tỷ đồng. Trong đó một số xã phát triển nhanh như khu công nghiệp SôTô Quảng Lợi, nhà in báo, Công ty may Minh Tuyết ở Quảng Thịnh, một số siêu thị nông thôn thuộc các xã Quảng Lợi, Quảng Thịnh. Một số xã đã tập trung khôi phục các ngành nghề phụ như mây giang xiên, mây tre đan, vùng trồng cói nguyên liệu, đến nay có 30/40 xã đưa nghề tiểu thủ công nghiệp vào sản xuất.