Xây Dựng Nông Thôn Mới Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Ở Huyện Kbang, Tỉnh Gia Lai

Khám phá những giải pháp xây dựng nông thôn mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, nâng cao đời sống và phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

1.4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

1.7. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Nội dung và tiêu chí xây dựng NTM

1.3. Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng NTM

1.4. Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của nhà nước về xây dựng NTM

1.5. Xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.6. Cơ sở thực tiễn

1.7. Tổng quan về huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

1.8. Xây dựng nông thôn mới ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

1.9. Chủ trương của Tỉnh ủy Gia Lai về xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1.10. Kinh nghiệm về xây dựng làng nông thôn mới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở một số địa phương của tỉnh Gia Lai

1.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

3. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

2.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện

2.2. Kết quả xây dựng NTM vùng đồng bào DTTS ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

2.3. Kết quả rà soát thực trạng, phương án xây dựng khu dân cư, lộ trình, giải pháp lồng ghép

2.4. Kết quả thực hiện các tiêu chí làng nông thôn mới vùng đồng bào DTTS

2.5. Đánh giá chung về xây dựng làng NTM vùng DTTS ở huyện Kbang

2.6. Những tồn tại, hạn chế

2.7. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

2.8. Bài học kinh nghiệm

2.9. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

4. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

3.1. Quan điểm và phương hướng

3.2. Một số quan điểm cơ bản

3.3. Phương hướng xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

3.4. Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

3.5. Giải pháp chung

3.6. Giải pháp cụ thể

3.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện Kbang Gia Lai

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những chương trình quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, chương trình này không chỉ giúp cải thiện đời sống vật chất mà còn nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Việc thực hiện chương trình NTM tại đây đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng gặp không ít thách thức. Để hiểu rõ hơn về tình hình này, cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng NTM tại huyện Kbang.

1.1. Tình Hình Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện Kbang

Huyện Kbang có 14 xã, thị trấn, trong đó nhiều xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Chương trình xây dựng NTM đã được triển khai từ năm 2015, với nhiều chính sách hỗ trợ từ Chính phủ. Tuy nhiên, việc thực hiện các tiêu chí NTM vẫn còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên và kinh tế của địa phương.

1.2. Ý Nghĩa Của Chương Trình Nông Thôn Mới Đối Với Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số

Chương trình NTM không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa và bản sắc dân tộc. Việc nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và hạ tầng cơ sở là những yếu tố quan trọng giúp đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện đời sống.

II. Những Thách Thức Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện Kbang

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng NTM, huyện Kbang vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ điều kiện tự nhiên mà còn từ sự thiếu hụt nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng. Việc nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc xây dựng NTM cũng là một yếu tố quan trọng.

2.1. Thiếu Hụt Nguồn Lực Tài Chính

Nguồn lực tài chính cho chương trình NTM tại huyện Kbang còn hạn chế. Việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các tiêu chí NTM.

2.2. Nhận Thức Của Người Dân Về Chương Trình NTM

Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của chương trình NTM. Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng NTM còn hạn chế, dẫn đến việc triển khai các hoạt động chưa hiệu quả.

III. Phương Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Hiệu Quả Tại Huyện Kbang

Để nâng cao hiệu quả xây dựng NTM tại huyện Kbang, cần áp dụng các phương pháp phù hợp. Việc lồng ghép các chương trình, chính sách và huy động sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và người dân.

3.1. Lồng Ghép Các Chương Trình Phát Triển Kinh Tế

Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế với chương trình NTM sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả. Các dự án phát triển nông nghiệp, du lịch cộng đồng cần được chú trọng.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Và Nâng Cao Nhận Thức

Đào tạo cho người dân về các kỹ năng sản xuất, quản lý và phát triển cộng đồng là rất cần thiết. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về chương trình NTM cũng cần được đẩy mạnh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Huyện Kbang

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng NTM tại huyện Kbang đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Các mô hình NTM thành công cần được nhân rộng và áp dụng cho các xã khác trong huyện.

4.1. Mô Hình Nông Thôn Mới Thành Công Tại Huyện Kbang

Một số xã đã thực hiện thành công các tiêu chí NTM, nhờ vào sự đồng lòng của người dân và sự hỗ trợ từ chính quyền. Các mô hình này cần được nghiên cứu và nhân rộng.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Xây Dựng NTM Tại Huyện Kbang

Đánh giá kết quả xây dựng NTM cần dựa trên các tiêu chí cụ thể. Việc theo dõi, đánh giá thường xuyên sẽ giúp điều chỉnh kịp thời các hoạt động, đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Chương Trình Nông Thôn Mới Tại Huyện Kbang

Chương trình xây dựng NTM tại huyện Kbang đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực để vượt qua các thách thức. Tương lai của chương trình này phụ thuộc vào sự tham gia tích cực của cộng đồng và sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền. Việc duy trì và phát triển các mô hình NTM thành công sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của huyện.

5.1. Định Hướng Phát Triển Nông Thôn Mới Tại Huyện Kbang

Định hướng phát triển NTM cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế bền vững. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn địa phương.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định đến thành công của chương trình NTM. Cần tạo điều kiện để người dân có thể tham gia vào quá trình ra quyết định và thực hiện các hoạt động xây dựng NTM.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Nông thôn” Khi xây dựng lý luận về xã hội, C. Ăngghen đã khái quát quy luật chung về hình thành đô thị, đó là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội trong quá khứ, nhờ đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ: đô thị và nông thôn.

Mác, sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc trước hết là do có sự tách rời giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp và do đó gây ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn [6; tr. Sự hình thành đô thị cũng là quá trình làm cho xã hội nông thôn được khẳng định; vì vậy, giữa nông thôn và đô thị có những điểm khác biệt. Tuy nhiên, quan niệm về nông thôn có thể khác nhau ở mỗi quốc gia. Vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi quy mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp.

Theo Từ điển tiếng Việt, nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông để phân biệt với thành thị [54; tr. Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn.

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương pháp: Thứ nhất, thành thị được xác định bởi luật, theo đó, là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được định 10 nghĩa là nông thôn. Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được để xác định vùng thành thị. Đối với Việt Nam, chúng ta theo phương pháp thứ nhất để phân định thành thị, nông thôn. Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị).

Theo tác giả Vũ Văn Phúc trong công trình Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn, nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa) [28; tr. Như vậy, nông thôn theo quan niệm này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị. Bên cạnh đó, theo cách hiểu truyền thống và phổ biến hiện nay thì nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề do cha ông để lại và phân công lao động xã hội chưa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM khẳng định: nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.

Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi nhận thức: nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị. Khái niệm “Nông thôn mới” Về NTM, các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau. Tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách “Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại” cho rằng, NTM là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam.

Còn tác giả Tô Văn Trường cho rằng, NTM cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân. Mô hình nông thôn tiên tiến phải được dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức. Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp. Có tác giả lại khẳng định, NTM phải tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng làm đòn bẩy phát triển các ngành nghề khác; NTM đạt được bộ tiêu chí do Chính phủ ban hành (19 tiêu chí); NTM phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; NTM phải áp dụng khoa học kỹ thuật mới, nâng cao thu nhập cho người dân.

Một số quan niệm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững. Như vậy, công thức NTM là: NTM = Nông dân mới + Nền nông nghiệp mới. Mặt khác, Nghị quyết 26-NQ/TƯ xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh 12 thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XHCN. Từ những phân tích trên, theo chúng tôi nhận thức, NTM đó là khu vực nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và tái tạo.

Khái niệm “Xây dựng nông thôn mới” Theo quan niệm truyền thống, phát triển nông thôn là một phần của mô hình hiện đại hóa, thể hiện trên 4 lĩnh vực: đầu tư vốn nâng cao năng suất; ứng dụng khoa học vào sản xuất và dịch vụ; hình thành các tổ chức chính trị, kinh tế quy mô lớn cấp nhà nước và đô thị hóa. Xây dựng nông thôn hay phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đa dạng, có sự tham gia của cá nhân, nhóm, tổ chức, đảm bảo sự phát triển cho cộng đồng nông thôn. Nhìn chung, chủ trương về xây dựng NTM hay phát triển nông thôn đã được thực hiện từ khá lâu, chủ yếu gắn với nội dung gắn phát triển nông nghiệp nói chung nhưng phạm vi mới dừng lại ở việc thí điểm ở một số địa phương. Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.

Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh. Xây dựng NTM bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân và môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà 13 cửa, dịch vụ công cộng, cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cũng như các vấn đề kinh tế của địa phương nói chung, kinh tế ngành nói riêng), là một quá trình ổn định, bền vững với những thay đổi kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường hướng tới hội nhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.

Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hóa hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo. Như vậy, từ những phân tích trên, theo chúng tôi nhận thức xây dựng NTM chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, vững chắc nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và sự phát triển. Đó là quá trình thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường; trong đó có hàm ý là tạo ra những “con người mới” có văn hóa trong môi trường NTM. Khái niệm “Dân tộc thiểu số” và “Vùng dân tộc thiểu số” Khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai khía cạnh, một là cộng đồng người và hai rộng hơn là để chỉ dân cư của một quốc gia.

Hai khái niệm này có liên quan mật thiết đến nhau. Trong khái niệm “người dân tộc thiểu số”, “dân tộc” dùng để chỉ một cộng đồng người trong tổng số dân cư của quốc gia, “thiểu số” dùng để chỉ số rất ít, chiếm số lượng không đáng kể trong tổng số chung. Như vậy, “dân tộc thiểu số” được hiểu là trên một quốc gia bao gồm nhiều dân tộc khác nhau thì “dân tộc thiểu số” có số dân cư chiếm số lượng nhỏ hoặc rất nhỏ so với tổng số người dân cả nước hoặc so với một hoặc nhiều các dân tộc chiếm số lượng lớn của đất nước. Ngoài ra, một số khái niệm “người bản địa” cũng được sử dụng để chỉ “người dân tộc thiểu số”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ