Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu. Trải qua 28 năm xây dựng và phát triển kể từ ngày 01/04/1976, Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang đã đào tạo được 5.689 giáo viên trung học cơ sở và tiểu học, đáp ứng nhu cầu giáo dục cấp thiết cho tỉnh Khánh Hòa cùng các địa phương lân cận như Phú Yên, Đắk Lắk, Gia Lai. Với quy mô khuôn viên 43.000 m² cùng hơn 1.200 sinh viên theo học thường xuyên, nhà trường giữ vai trò là trung tâm đào tạo sư phạm nòng cốt của khu vực Nam Trung Bộ.

Tuy nhiên, bước chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra những tác động đa chiều đến hệ thống chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đại bộ phận sinh viên giữ vững truyền thống tôn sư trọng đạo, một bộ phận không nhỏ người học đang bộc lộ sự suy giảm về lý tưởng chính trị, động cơ học tập thụ động, mang nặng tâm lý thực dụng và xuất hiện các biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Đứng trước yêu cầu đó, luận văn thạc sĩ triết học của tác giả Vũ Thị Kim Oanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Văn Lực tại Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2004), đã tập trung nghiên cứu đề tài: "Xây dựng nhân cách sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang hiện nay - Thực trạng và giải pháp".

Mục tiêu cốt lõi của công trình là vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để làm rõ bản chất, cấu trúc nhân cách người giáo viên tương lai; đánh giá khách quan thực trạng nhân cách sinh viên giai đoạn 1996 - 2004; từ đó xác lập hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn nhân cách sư phạm, định hướng mục tiêu duy trì tỷ lệ tốt nghiệp trên 95% và nâng tỷ lệ người học có động cơ học tập tích cực vượt mốc 80%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng phương pháp luận xuyên suốt. Trong đó, luận điểm kinh điển của C. Mác khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" đóng vai trò kim chỉ nam để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố tự nhiên (sinh học) và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành nhân cách.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược "trồng người" và quan điểm phát triển toàn diện giữa Đức và Tài, trong đó khẳng định phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn có mối quan hệ thống nhất hữu cơ, không thể tách rời. Các lý thuyết tâm lý học hoạt động của A.N. Leontiev và quan điểm giáo dục học của K. Ushinsky cũng được kế thừa nhằm làm rõ vai trò chủ đạo của hoạt động thực tiễn, giao tiếp và môi trường tập thể đối với quá trình tự ý thức, tự hoàn thiện của cá nhân.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm trung tâm:

  • Nhân cách: Toàn bộ năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý của cá nhân, tạo thành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động.
  • Xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội: Quá trình biện chứng hai chiều, trong đó cá nhân tiếp thu các giá trị văn hóa - xã hội để hoàn thiện bản thân, đồng thời tác động tích cực trở lại nhằm cải tạo hiện thực khách quan.
  • Cấu trúc nhân cách sư phạm: Chỉnh thể thống nhất gồm hai thành tố cơ bản là phẩm chất (thế giới quan, lý tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ý chí) và năng lực (năng lực dạy học, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực tổ chức hoạt động).
  • Thế giới quan cá nhân: Hạt nhân định hướng toàn bộ hành vi, niềm tin, hệ giá trị và mục tiêu phấn đấu của người học trong môi trường giáo dục chuyên nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, tác giả phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận triết học và điều tra thực nghiệm xã hội học:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát thực nghiệm trên cỡ mẫu N = 356 sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Cỡ mẫu này chiếm gần 30% tổng số sinh viên toàn trường, phân bổ đồng đều tại 4 khoa đào tạo chính: 108 sinh viên Khoa Tự nhiên (chiếm 30,34%), 115 sinh viên Khoa Xã hội (chiếm 32,30%), 85 sinh viên Khoa Ngoại ngữ (chiếm 23,88%) và 48 sinh viên Khoa Tiểu học (chiếm 13,48%). Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê tuyển sinh, hồ sơ đào tạo và kết quả rèn luyện của Phòng Đào tạo cùng Đoàn trường qua 6 năm học liên tục (từ năm 1996 đến năm 2004).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo từng khối ngành và khóa học. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện đa dạng về đặc điểm tâm sinh lý, chuyên ngành đào tạo và giới tính của sinh viên sư phạm.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp triết học, tiếp cận hệ thống - cấu trúc, tiếp cận giá trị - nhân cách, phương pháp logic - lịch sử và kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm). Lý do lựa chọn sự kết hợp này là nhằm chuyển hóa các quy luật triết học trừu tượng thành các chỉ báo thực nghiệm định lượng cụ thể, từ đó chỉ ra đúng nguyên nhân gốc rễ của thực trạng nhân cách sinh viên trong bối cảnh kinh tế thị trường.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập số liệu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành tập trung trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng nhân cách sinh viên:

  • Động cơ chọn ngành và chất lượng tuyển sinh đầu vào tăng trưởng mạnh: Kết quả điều tra 356 sinh viên cho thấy có 84,3% người học lựa chọn ngành sư phạm xuất phát từ lòng yêu nghề đích thực, 32,7% kỳ vọng vào mức thu nhập ổn định. Tuy nhiên, vẫn còn 15,1% sinh viên chọn ngành do áp lực từ gia đình và 7,02% lựa chọn theo sự rủ rê của bạn bè. Chất lượng đầu vào có sự bứt phá rõ rệt qua các năm: điểm chuẩn Khối A tăng từ 15 điểm (năm 1996) lên 22 điểm (năm 2001); điểm chuẩn Khối Tiểu học tăng gấp 2 lần, từ 9 điểm lên 18 điểm trong cùng giai đoạn. Tỷ lệ cạnh tranh trúng tuyển năm 2001-2002 đạt độ sàng lọc gắt gao, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2000-2001 và gấp 5 lần so với năm 1996-1997.
  • Sự phân hóa rõ rệt trong ý thức học tập và kỹ năng tự học: Đánh giá từ đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chỉ ra rằng có 19% sinh viên đạt ý thức học tập tích cực, 61% ở mức độ bình thường và 20% có ý thức kém. Về thời gian tự nghiên cứu hàng ngày, 26% sinh viên dành từ 5 tiếng trở lên, 45% tự học từ 2 đến 4 tiếng, 22% học từ 1 đến 2 tiếng và 7% hầu như không dành thời gian tự học. Dù vậy, kết quả học tập chung vẫn duy trì ổn định: trong học kỳ I năm học 2003-2004 có 246 sinh viên đạt loại tốt, số lượng sinh viên trung bình giảm còn 237 người (giảm gần 1/3 so với các năm học trước); tỷ lệ tốt nghiệp toàn khóa đạt 95,19% (218/299 sinh viên), riêng khối chuyên ngành Ngoại ngữ đạt tỷ lệ tốt nghiệp tuyệt đối 100%.
  • Tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực trong thi cử và tác phong sinh hoạt: Khảo sát về mức độ vi phạm quy chế thi cử cho thấy có tới 38% sinh viên xác nhận hiện tượng mang tài liệu trái phép vào phòng thi, 30% chứng kiến việc trao đổi bài trong giờ làm bài và 22% ghi nhận việc sử dụng tài liệu trực tiếp. Về tác phong kỷ luật, 9% sinh viên đánh giá hiện tượng đi học muộn là phổ biến, 35% nhận định đi muộn diễn ra phần lớn, tạo nên nếp sống lề mề, thiếu tác phong công nghiệp.
  • Mức độ phân hóa sâu sắc trong hoạt động chính trị - xã hội: Có tới 80% sinh viên thể hiện sự yêu thích đối với các mô hình câu lạc bộ, 78% hứng thú với các buổi nói chuyện văn hóa nghệ thuật, 70% hào hứng tham gia dạ hội - hội diễn và 61% thích giao lưu kết nghĩa. Ngược lại, các hoạt động mang tính chính trị có mức độ tham gia rất thấp: chỉ 24% sinh viên thực sự thích sinh hoạt chính trị thời sự và 41% hào hứng với sinh hoạt chi đoàn, lớp. Dù vậy, các phong trào tình nguyện cộng đồng vẫn ghi nhận kết quả tích cực với gần 200 sinh viên tham gia hiến máu nhân đạo trong năm 2000 và 21 đảng viên mới được kết nạp trong 5 năm (trong đó có 6 sinh viên ưu tú).

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh sự va đập gay gắt giữa lối sống thị trường thực dụng và yêu cầu mô phạm truyền thống. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ việc một bộ phận sinh viên chưa xác lập được thế giới quan khoa học vững chắc, còn mang nặng tâm lý tiểu nông, học đối phó cốt lấy tấm bằng để xin việc. Bên cạnh đó, nội dung sinh hoạt chính trị và phương pháp giảng dạy lý luận của nhà trường chậm đổi mới, mang nặng tính giáo điều một chiều, chưa tạo được sức hút tự thân đối với giới trẻ.

So sánh với các nghiên cứu quy mô quốc gia cùng thời kỳ (như chương trình KX.04 về nhân cách con người Việt Nam hay đề tài KX.07 về nguồn lực con người), sinh viên Sư phạm Nha Trang có ưu thế nổi trội về tính thuần hậu, gắn kết cộng đồng và tinh thần nhân ái. Tuy nhiên, tính thụ động trong nghiên cứu khoa học và sự e ngại công tác tại các vùng sâu, vùng xa (như huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh) là rào cản lớn cần khắc phục.

Về mặt trực quan hóa học thuật, các dữ liệu trên có thể được biểu diễn một cách hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện đà tăng trưởng điểm chuẩn tuyển sinh giai đoạn 1996 - 2002; biểu đồ tròn mô tả cơ cấu phân bổ quỹ thời gian tự học của sinh viên; cùng bảng số liệu so sánh chéo 4 chiều giữa động cơ chọn nghề, kết quả rèn luyện và xếp loại thi tốt nghiệp qua từng năm học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng khảo sát, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Đổi mới căn bản nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng: Đảng ủy, Ban Giám hiệu phối hợp với Tổ Chính trị và Đoàn Thanh niên triển khai lộ trình từ năm 2004 đến năm 2006. Chuyển đổi phương thức giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin từ truyền thụ một chiều sang thảo luận chuyên đề, đối thoại mở và thi Olympic lý luận trực quan. Mục tiêu cụ thể: nâng tỷ lệ sinh viên hứng thú với hoạt động chính trị từ 24% lên trên 65%, triệt tiêu hoàn toàn các biểu hiện phai nhạt lý tưởng và dao động tư tưởng trong sinh viên.
  2. Tăng cường siết chặt kỷ cương học đường và chuẩn hóa quy trình thi cử: Phòng Đào tạo cùng Ban Chủ nhiệm 5 Khoa chuyên môn chủ trì thực hiện thường xuyên từ năm học 2004-2005. Áp dụng cơ chế giám sát chéo trong các kỳ thi học kỳ, xử lý nghiêm các hành vi gian lận. Mục tiêu: giảm tỷ lệ vi phạm mang tài liệu vào phòng thi từ 38% về mức 0%, hạ tỷ lệ sinh viên đi học muộn từ 44% xuống dưới 5%, xây dựng tác phong công nghiệp chuẩn mực cho người thầy giáo tương lai.
  3. Đa dạng hóa mô hình hoạt động Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên theo hướng tự quản: Ban Chấp hành Đoàn trường và Hội Sinh viên triển khai định kỳ theo từng học kỳ. Chuyển trọng tâm sinh hoạt chi đoàn khô cứng sang các mô hình câu lạc bộ học thuật, câu lạc bộ kỹ năng mềm, diễn đàn văn hóa nghệ thuật và các chiến dịch tình nguyện hè tại 2 huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh. Mục tiêu: thu hút trên 90% đoàn viên tham gia tự nguyện, duy trì phong trào hiến máu nhân đạo với quy mô trên 300 sinh viên tham gia mỗi năm.
  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất mẫu mực của đội ngũ giảng viên sư phạm: Ban Giám hiệu và các Tổ bộ môn xây dựng đề án chuẩn hóa đội ngũ giai đoạn 2004 - 2008. Tạo điều kiện cho giảng viên học tập nâng cao trình độ sau đại học, phấn đấu nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ từ 52 người (3 tiến sĩ, 49 thạc sĩ) lên chiếm trên 70% tổng số cán bộ giảng dạy, đảm bảo mỗi nhà giáo là một tấm gương sáng về nhân cách và phương pháp sư phạm mẫu mực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban Giám hiệu và cán bộ quản lý tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Cung cấp khung tham chiếu toàn diện để hoạch định chiến lược quản trị sinh viên, xây dựng chuẩn đầu ra về phẩm chất nhân cách và tối ưu hóa quy trình đào tạo với mục tiêu duy trì tỷ lệ tốt nghiệp khá, giỏi đạt trên 50%.
  • Giảng viên bộ môn Lý luận Chính trị, Triết học và Tâm lý - Giáo dục: Nguồn tư liệu thực chứng phong phú với 356 phiếu khảo sát và dữ liệu tuyển sinh 6 năm liên tiếp, giúp minh họa sinh động cho các bài giảng chuyên đề về bản chất con người và giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
  • Cán bộ Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên các trường chuyên nghiệp: Cẩm nang thực tế để đổi mới phương thức tập hợp thanh niên, thiết kế các chương trình ngoại khóa chuyển đổi từ áp đặt hành chính sang đáp ứng nhu cầu tự thân của sinh viên.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Giáo dục học: Tài liệu tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa lý luận duy vật biện chứng với kỹ thuật điều tra xã hội học định lượng trong nghiên cứu các vấn đề phát triển nguồn nhân lực giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

  • Luận văn tiếp cận khái niệm nhân cách sinh viên dưới góc độ triết học như thế nào?
    Luận văn dựa trên quan điểm Mác-xít coi con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Nhân cách sinh viên sư phạm được xác định là chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất chính trị - đạo đức (Đức) và năng lực chuyên môn nghiệp vụ (Tài), đóng vai trò là chủ thể tự ý thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi trong hoạt động nghề nghiệp.

  • Cỡ mẫu khảo sát 356 sinh viên có đảm bảo độ tin cậy khoa học cho toàn trường không?
    Cỡ mẫu 356 sinh viên chiếm gần 30% tổng số hơn 1.200 sinh viên toàn trường, được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng tại cả 4 khoa đào tạo (Tự nhiên 108, Xã hội 115, Ngoại ngữ 85, Tiểu học 48). Cơ cấu mẫu này phản ánh đầy đủ tính đại diện khoa học cho toàn thể sinh viên đang theo học.

  • Mâu thuẫn lớn nhất trong thái độ tham gia phong trào của sinh viên là gì?
    Kết quả khảo sát chỉ ra sự lệch pha sâu sắc: có tới 80% sinh viên yêu thích hoạt động câu lạc bộ và 70% thích dạ hội văn nghệ, nhưng chỉ có 24% hào hứng với sinh hoạt chính trị thời sự và 41% thích sinh hoạt chi đoàn do phương thức tổ chức còn khô khan, mang tính áp đặt một chiều.

  • Thực trạng vi phạm kỷ luật và quy chế thi cử diễn ra ở mức độ nào?
    Mặc dù nhà trường có quy chế xử lý nghiêm ngặt, khảo sát vẫn ghi nhận 38% sinh viên thấy hiện tượng mang tài liệu vào phòng thi, 30% trao đổi bài và 22% sử dụng tài liệu trong giờ thi. Tình trạng này bắt nguồn từ tâm lý học đối phó, bệnh thành tích và sự thiếu tự tin vào kiến thức tự tích lũy.

  • Giá trị ứng dụng thực tiễn nổi bật nhất của luận văn là gì?
    Luận văn đã khái quát hóa mô hình nhân cách người thầy giáo tương lai trong thời kỳ công nghiệp hóa, đồng thời cung cấp hệ thống 4 giải pháp đồng bộ giúp Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang nâng cao chất lượng đào tạo 5.689 giáo viên, tạo nền tảng vững chắc cho lộ trình nâng cấp nhà trường thành trường đại học đa ngành của khu vực.

Kết luận

  • Làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học duy vật biện chứng về bản chất nhân cách sinh viên sư phạm là sự thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn.
  • Khái quát hóa chặng đường 28 năm xây dựng và phát triển của Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang với quy mô 43.000 m² và thành tích đào tạo 5.689 giáo viên cho địa phương.
  • Phản ánh trung thực thực trạng nhân cách qua khảo sát 356 sinh viên, chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong động cơ chọn ngành (84,3% yêu nghề) cùng những hạn chế về kỷ luật tự học và tính thụ động chính trị.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy chính trị, siết chặt kỷ cương thi cử, đa dạng hóa hoạt động Đoàn - Hội và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
  • Khẳng định nhân cách người thầy giáo là nhân tố cốt lõi quyết định trực tiếp chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Khánh Hòa và đất nước.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc, kết hợp hài hòa giữa triết học Mác - Lênin và dữ liệu thực chứng xã hội học nhằm giải quyết bài toán xây dựng nhân cách người học tại chỗ. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi nhà trường tiến hành khảo sát định kỳ 2 năm/lần để theo dõi các chỉ số biến động nhân cách sinh viên. Quý bạn đọc, các nhà nghiên cứu giáo dục và nhà quản lý hãy tham khảo ngay toàn văn luận văn để vận dụng hiệu quả các mô hình giải pháp vào công tác đào tạo thế hệ nhà giáo tương lai.