Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu chung về nhân cách Với tư cách là khách thể trong nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, nhân cách từ lâu đã trở thành đề tài được các nhà tư tưởng cả ở phương Tây và phương Đông quan tâm, khảo sát trên nhiều bình diện. Nghiên cứu về nhân cách đã được phân tích ở các mức độ, phạm vi, mục đích khác nhau và từ nhiều góc độ như: đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, luật học. Đặc biệt, vào thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, trên thế giới, các trào lưu nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia.
Việc chọn nghiên cứu nhân cách theo xu hướng nào, lý luận hay thực nghiệm; nếu là xu hướng lý luận thì lựa chọn lý luận mácxít hay ngoài mácxít để làm nền tảng cho lý thuyết cơ bản… đã được thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn học thuật. Câu hỏi: việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người có thực hiện được không; hay bản thân mỗi con người sinh ra đã định hình nhân cách của chính mình là nỗi băn khoăn của nhiều người. Việc lý giải quá trình hình thành nhân cách bắt nguồn từ những yếu tố nào, từ cơ chế sinh học, tâm lý hay từ các yếu tố xã hội mà ở đó cá nhân đóng vai trò vừa là chủ thể vừa là khách thể, đã hình thành nhiều khuynh hướng khác nhau trong việc giải quyết vấn đề nhân cách. Chính vì thế, sự tranh luận giữa các trường phái triết học bàn về nhân cách thường xoay quanh chủ đề này.
Trong khuôn khổ đề tài, tác giả luận án không tham vọng trình bày mọi quan điểm của các trường phái triết học trong lịch sử, mà chỉ tập trung vào quan điểm mácxít về sự hình thành nhân cách và đồng quan điểm với các nhà khoa học cho rằng: muốn lý giải được bản chất cũng như sự hình thành nhân cách, phải đặt nó trong sự phát triển lịch sử của xã hội và trong hệ thống các quan hệ xã hội vốn tồn tại trên cơ sở những tiền đề sinh học sẵn có. Tác giả luận án cũng lựa chọn hướng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp cận nhân cách dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhân cách, coi đó là khung cơ sở lý luận của luận án. Nhà sư phạm Xô Viết A.Macaren trong cuốn Chủ nghĩa xã hội và nhân cách do Nxb. Sách giáo khoa Mác - Lênin xuất bản năm 1983, viết: “Vấn đề nhân cách có thể được giải quyết nếu người ta nhận thấy ở mỗi người là một nhân cách.
Nếu nhân cách dự kiến chỉ có ở một số người theo một sự lựa chọn đặc biệt nào đấy thì không có vấn đề nhân cách” [3, tr. Tác giả khẳng định: Con người được hình thành như một nhân cách trong tiến trình sinh thành cá thể. Đối với sự phát triển của nhân cách, những yếu tố xã hội và tự nhiên luôn xoắn xuýt với nhau. Nếu chỉ là một cơ thể sinh vật, thì con người không thể là một nhân cách mà chính những yếu tố xã hội, thực tiễn đã làm cho con người hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình.
Từ vai trò quan trọng của nhân cách, tác giả đưa ra quan điểm: “Nhân cách không đơn giản là “một tế bào trong cộng đồng đa bào”. Nó được mệnh danh là cơ thể xã hội” [3, tr. Chính vì vậy, nhân cách có sự phát triển tương đồng với sự phát triển của xã hội, xã hội nào thì quy định, định hướng phát triển của loại nhân cách đó. Với tư cách là một cơ thể sống của xã hội, ông đã chỉ ra “nhu cầu của nhân cách tạo thành cơ sở bản chất của nó” - có nghĩa là, bản chất của nhân cách được hình thành do nhu cầu tự thân của nó cùng với điều kiện xã hội ở thời điểm đó.
Sự phát triển của nhân cách cần được hiểu là sự hình thành những phẩm chất xã hội nhất định mà cá nhân cần có để thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội. Cá nhân không thể kế thừa những phẩm chất này một cách tự nhiên như khi kế thừa những đặc điểm di truyền sinh vật của mình, mà phải tiếp thụ chúng bằng sự nỗ lực của bản thân, bằng hoạt động thực tiễn tích cực và thông qua tác động xã hội trong quá trình sinh hoạt cá nhân. Trong quá trình này, mỗi cá nhân đều biểu hiện vừa là chủ thể, vừa là khách thể của sự phát triển xã hội và lịch sử [3, tr. Trong số những tài liệu đã đựợc dịch ra tiếng Việt, cuốn Hoạt động, ý thức, nhân cách, xuất bản năm 1989 của Leonchiep là tài liệu tham khảo có nhiều giá trị đối với nghiên cứu về nhân cách trên phương diện lý luận.
Đồng quan điểm với 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Macaren trong việc khẳng định mối quan hệ giữa nhân cách và xã hội; trong chương 5 “Hoạt động và nhân cách”, tác giả đã xem xét, phân tích nhân cách trên cơ sở là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, phân biệt 2 khái niệm cá nhân và nhân cách. Theo tác giả, khái niệm cá nhân hay cá thể muốn nhấn mạnh nhiều đến yếu tố di truyền, còn “nhân cách không phải là một chỉnh thể được chế định theo kiểu di truyền, có nghĩa là: người ta sinh ra không phải đã là nhân cách mà người ta trở thành một nhân cách”[1, tr. Từ luận điểm này, tác giả đưa đến những nhận định về ảnh hưởng của hoạt động thực tiễn, của động cơ, cảm xúc cá nhân… đến việc hình thành nhân cách và khẳng định: “Nhân cách được tạo ra bởi các hoàn cảnh khách quan, nhưng không phải bằng cách nào khác ngoài cách thông qua toàn bộ hoạt động của cá nhân thực hiện các quan hệ của nó với thế giới. Những đặc điểm của hoạt động này cũng tạo thành cái quy định kiểu loại của nhân cách” [1, tr.
Như vậy, bản thân con người khi sinh ra không phải đã định hình nhân cách mà trong quá trình hoạt động, tương tác với xã hội, nhân cách mới được hình thành và phát triển. Điều này mang ý nghĩa: ảnh hưởng của môi trường xã hội tới nhân cách là rất lớn và ngược lại; hơn thế nữa, việc xây dựng, giáo dục nhân cách là yếu tố tất yếu để góp phần hoàn thiện nhân cách. Những luận điểm nêu trên cho thấy, xây dựng nhân cách, nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện nhân cách là quá trình đã, đang và sẽ được tiến hành cùng với sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam, hệ thống hóa các quan điểm mácxít về nhân cách đã được tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong công trình Tâm lý học nhân cách: Một số vấn đề lý luận tiến hành.
Cùng với việc khái quát các tư tưởng trong lịch sử phương Đông và tâm lý học phương Tây về nhân cách, với lĩnh vực nghiên cứu này ở Việt Nam, ông khẳng định: “Tuy rằng chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống, song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây: 1. Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực, hoặc là con người có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người.
Nhân cách được hiểu như các phẩm chất của con người mới: làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động. Nhân cách được hiểu như một đạo đức, giá trị làm người của con người” [8, tr. Ngày nay, bên cạnh việc lấy tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng cho nghiên cứu nhân cách, ông khẳng định rằng rất cần căn cứ vào những quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề này. Từ sự phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách, tác giả đưa ra nhận định: Nhân cách hay “phẩm giá cá nhân gồm những phẩm chất mà cá nhân thu nhận được trong quá trình hoạt động giao tiếp và những giá trị xã hội của những phẩm chất đó.
Điều đó nghĩa là những phẩm chất của cá nhân đều có ý nghĩa xã hội, thông qua sự đánh giá của xã hội thì hành động đó và việc làm đó mới mang ý nghĩa nhân cách” [8, tr. Nhận định về tầm quan trọng của nghiên cứu nhân cách dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng một lần nữa được khẳng định trong cuốn Tâm lý học xã hội, một nhân tố thắng lợi trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, của Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1990. Các tác giả đều có quan điểm rằng: “Trong những năm gần đây, vấn đề nhân cách được nhiều người, nhiều ngành khoa học quan tâm. Từ các góc độ của mình, các nhà khoa học đã làm sáng tỏ mặt triết học, mặt tâm lý học, mặt xã hội học của nhân cách.
Nhưng điều đó hoàn toàn chưa đủ” [118, tr. Việc tiếp tục nghiên cứu về nhân cách là vô cùng cần thiết và ý kiến của các vĩ nhân, trong đó có Hồ Chí Minh về vấn đề này là vô cùng quan trọng. Đứng ở góc độ của bộ môn Tâm lý học, các tác giả đã tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh để bàn về khái niệm nhân cách: Nếu như chúng ta đã từng lấy ý kiến của Mác và Lênin làm cơ sở cho việc tìm hiểu khái niệm nhân cách thì những ý kiến của Hồ Chí Minh cũng không kém phần quan trọng trong cách nhìn nhận nhân cách người Việt Nam. Chúng ta đều biết rằng Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tới khái niệm nhân cách.
Song trong những bài viết và nói của Người đều toát lên tinh thần và nội dung của khái niệm này [118, tr. Tác giả nêu ví dụ trong bài nói chuyện ngày 5/9/1954 của Hồ Chí Minh với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô sau chiến thắng Điện Biên Phủ: “Khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải như thế nào”[78, tr.46] và “Ý muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hóa thì phải luôn thực hành bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”[78, tr. Có thể thấy, nội hàm nhân cách trong lời dạy trên đồng nhất với khái niệm đạo đức cách mạng mà Người thường sử dụng trong các bài nói, bài viết của mình.