Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu giải quyết vấn đề xây dựng lối sống cho sinh viên đại học trong bối cảnh công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đất nước. Văn bản đặt cơ sở từ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, xác định việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Nguồn lực đó đòi hỏi người lao động khỏe mạnh, có trí tuệ, tay nghề thành thạo và phẩm chất lối sống tốt đẹp.

Khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Quá trình này, bên cạnh mặt tích cực, đã làm nảy sinh hiện tượng lệch chuẩn ở một bộ phận xã hội với lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, phi nhân bản, phi đạo lý. Đồng thời, các chiến lược "diễn biến hòa bình" và "chiến tranh không có khói súng" của các thế lực thù địch nhắm vào mục tiêu, lý tưởng và lối sống của thanh niên, sinh viên. Đào tạo đại học là trận địa đấu tranh tư tưởng nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý tương lai. Việc nghiên cứu hệ thống các điều kiện để định hình lối sống sinh viên vừa mang tính lý luận, vừa mang tính cấp bách thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của tác giả là bằng lý luận và thực tiễn lối sống của sinh viên ở các trường đại học thuộc khu vực Hà Nội, chỉ ra những điều kiện cơ bản để xây dựng lối sống sinh viên trong các trường đại học hiện nay. Để đạt mục đích này, luận án thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ những nội dung cơ bản của phạm trù lối sống, những đặc trưng và những cơ sở hình thành lối sống mới ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những đặc thù trong lối sống của sinh viên các trường đại học và cao đẳng trong điều kiện cơ chế thị trường, những nhân tố tác động đến lối sống của họ.
  2. Khái quát thực trạng lối sống của sinh viên ở một số trường đại học thuộc khu vực Hà Nội.
  3. Rút ra kết luận về những điều kiện cơ bản để xây dựng lối sống sinh viên đại học trong điều kiện hiện nay; đề xuất một số kiến nghị cụ thể.

Đối tượng nghiên cứu là lối sống sinh viên và hệ thống các điều kiện cơ bản để xây dựng lối sống sinh viên. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung khảo sát tại một số trường đại học thuộc khu vực Hà Nội (như Đại học Thương mại, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Thủy lợi). Phạm vi thời gian gắn liền với chặng đường đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 1997), đặc biệt tập trung vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học và nguồn tư liệu liên quan đến con người và lối sống sinh viên:

  • Chương trình nghiên cứu khoa học - công nghệ cấp nhà nước mã số KX-07 mang tên "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội", tiêu biểu là đề tài cấp nhà nước nhánh KX-07-04: "Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách của con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội". Đề tài này đã đi sâu khảo sát, phân tích các thang bậc giá trị, định hướng nhân cách và lối sống của các tầng lớp nhân dân, trong đó có tầng lớp thanh niên, sinh viên.
  • Báo cáo tổng kết đề tài khoa học của Hội Sinh viên thành phố Hà Nội: "Tình hình nếp sống của sinh viên Hà Nội - thực trạng và giải pháp", cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng về nếp sống, thời gian tự học, quan hệ ứng xử và sinh hoạt của sinh viên thủ đô.
  • Các bài viết chuyên khảo, nghiên cứu chuyên đề trên các cơ quan báo chí như Báo Nhân dân, Báo Giáo dục và Thời đại, Báo Thanh niên, Báo Hoa học trò. Các bài viết này phản ánh diện mạo, tính phong phú, xu hướng vận động cùng các nhân tố khách quan, chủ quan chi phối lối sống của giới trẻ học đường.

Vị trí của luận án được xác định là công trình kế thừa các luận điểm triết học Mác - Lênin và các kết quả điều tra xã hội học trước đó, tập trung giải quyết khoảng trống: hệ thống hóa một cách đồng bộ các điều kiện khách quan và chủ quan để xây dựng lối sống sinh viên trong môi trường giáo dục đại học dưới tác động của cơ chế thị trường tại một địa bàn cụ thể là Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C. Mác và Ph. Ăng-ghen xem xét lối sống gắn liền chặt chẽ với phương thức sản xuất và những điều kiện vật chất của đời sống xã hội: phương thức sản xuất không đơn thuần là sự tái sản xuất thể lực cá nhân mà là một phương thức hoạt động nhất định, một kiểu sinh hoạt, một lối sống nhất định. Chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi xem xét lối sống mang tính giai cấp và quan điểm lịch sử cụ thể; cơ sở kinh tế của một chế độ xã hội (lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất) quy định lối sống của các giai cấp, tầng lớp tương ứng. Đồng thời, tác giả viện dẫn luận điểm của Ph. Ăng-ghen: con người trước hết cần phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật.

Tác giả phê phán quan điểm của các học giả tư sản khi đồng nhất lối sống với "mức sống" (phạm trù kinh tế đo bằng thu nhập, số lượng vật phẩm tiêu dùng) hoặc thu hẹp lối sống vào "chất lượng sống" (điều kiện kinh tế - xã hội, sinh thái học, thời gian rảnh rỗi). Luận án xác lập định nghĩa: Lối sống là một tổng thể những đặc điểm căn bản của hoạt động sống của xã hội, của các tập đoàn xã hội, của các giai cấp và các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Mối quan hệ biện chứng được phân tích theo chuỗi: Giá trị quy định nhân cách, nhân cách quy định hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Ba nhóm nhân tố quy định lối sống bao gồm:

  1. Bản chất con người với tư cách chủ thể hoạt động sống.
  2. Những điều kiện kinh tế - xã hội (trình độ phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, mức sống).
  3. Hoàn cảnh địa lý tự nhiên (môi trường, khí hậu, tài nguyên). Ngoài ra, lối sống có tính độc lập tương đối, gắn liền với việc kế thừa giá trị truyền thống dân tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích lý luận, phương pháp lịch sử - logic và phương pháp xã hội học thực nghiệm. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu điều tra bảng hỏi, kết hợp phỏng vấn sâu sinh viên, cán bộ quản lý sinh viên, cán bộ quản lý ký túc xá tại các trường đại học khu vực Hà Nội. Nguồn số liệu thứ cấp được khai thác từ Đề tài KX-07, báo cáo của Hội Sinh viên thành phố Hà Nội và số liệu thống kê của Công an thành phố Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lối sống trong mục tiêu đào tạo sinh viên đại học

Chương 1 làm rõ các nội dung cơ bản của phạm trù lối sống, bản sắc lối sống Việt Nam và vị trí của lối sống trong chiến lược đào tạo toàn diện. Lối sống Việt Nam được hun đúc qua lịch sử dựng nước và giữ nước, mang các giá trị cốt lõi: lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần nhân nghĩa, cần cù lao động, dũng cảm, sáng tạo. Tác giả dẫn chứng câu ca dao "Bầu ơi thương lấy bí cùng", truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, tư tưởng trong "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi ("Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo"), cùng tấm gương các chiến sĩ cách mạng như Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, La Văn Cầu, Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu.

Dẫn chứng từ Đề tài KX-07, tác giả chỉ ra sự chuyển dịch nhân cách con người Việt Nam từ trước năm 1986 sang thời kỳ đổi mới: từ ít biết tính toán sang biết tính toán hiệu quả kinh tế; từ cầu an, sợ phiêu lưu mạo hiểm sang dám chấp nhận rủi ro, cạnh tranh; từ bình quân chủ nghĩa sang chấp nhận phân hóa giàu nghèo. Sáu giá trị nhân cách nổi bật của con người thời kỳ đổi mới gồm: có trình độ học vấn; sống có tình nghĩa; có khả năng tổ chức quản lý; làm việc tận tâm, có trách nhiệm; sáng tạo trong học tập, lao động; biết nhiều nghề, thạo một nghề.

Đối với tầng lớp sinh viên, kết quả điều tra của Chương trình KX-07 về định hướng giá trị chung, định hướng nhân cách và định hướng nghề nghiệp được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Nhóm định hướng Số lượng giá trị được chọn (> 50% sinh viên) Nội dung cụ thể theo thứ bậc ưu tiên
Định hướng giá trị chung 11/20 giá trị Hòa bình, sức khỏe, học vấn, niềm tin, sống có mục đích, tự trọng, việc làm, công lý, gia đình hòa thuận, tình bạn, tự do
Định hướng giá trị nhân cách 9 đặc điểm 1. Sống có trình độ học vấn rộng
2. Sống có tình nghĩa
3. Có khả năng tổ chức quản lý công việc
4. Sáng tạo trong học tập
5. Có tư duy kinh tế, biết tính toán hiệu quả
6. Năng động, nhanh nhạy, thích nghi hoàn cảnh
7. Sử dụng thành thạo tiếng nước ngoài
8. Dám nghĩ, dám làm, chấp nhận mạo hiểm
9. Biết xây dựng cuộc sống gia đình hòa thuận
Định hướng nghề nghiệp 10 nghề nghiệp 1. Nghề có thu nhập cao
2. Nghề phù hợp hứng thú, sở thích
3. Nghề phù hợp sức khỏe
4. Nghề có điều kiện chăm lo gia đình
5. Nghề có điều kiện phát triển năng lực
6. Nghề được xã hội coi trọng
7. Nghề làm việc bằng trí óc
8. Nghề bảo đảm yên tâm suốt đời
9. Nghề có thể giúp ích cho nhiều người
10. Nghề có điều kiện học tập tiếp tục

Từ các định hướng giá trị trên, chương này đúc kết 5 đặc trưng cơ bản của lối sống sinh viên hiện nay:

  1. Sống có mục đích, có niềm tin hướng tới lý tưởng cao đẹp của xã hội (hòa bình, công bằng, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh).
  2. Sống tích cực, năng động, nhạy bén và hiệu quả; khao khát vươn tới trình độ học vấn cao, nắm vững ngoại ngữ, tin học.
  3. Sống có văn hóa, hiện đại, độc lập, tự lập, ứng xử lịch sự trong các mối quan hệ xã hội.
  4. Sống có tình nghĩa, yêu thương, đoàn kết, tương trợ bạn bè.
  5. Có đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, gắn kết hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao.

Chương 2: Thực trạng lối sống sinh viên hiện nay (Qua khảo sát ở một số trường đại học thuộc khu vực Hà Nội)

Chương 2 phản ánh toàn diện bức tranh thực nghiệm về lối sống sinh viên tại Hà Nội thông qua các chiều kích kinh tế, môi trường sư phạm, văn hóa truyền thống và cơ chế thị trường.

Về đời sống gia đình và điều kiện kinh tế: Sinh viên theo học các trường đại học tại Hà Nội có nguồn gốc từ các địa phương chiếm 60 - 70%, xuất thân từ nông thôn chiếm 40 - 50%. Chi tiêu tối thiểu hàng tháng của mỗi sinh viên từ 400.000 đến 500.000 đồng. Khoảng 8% sinh viên phải hoàn toàn tự xoay xở mưu sinh, gia đình hiếm khi hỗ trợ; 14% sinh viên được điều tra cho biết đi làm thêm xuất phát từ nhu cầu cần tiền để trang trải học tập và sinh hoạt. Về quan hệ ứng xử trong gia đình: 80,2% sinh viên cho biết gia đình thường xuyên duy trì nếp sống tốt, giúp đỡ lẫn nhau; 8,7% cho biết chỉ giúp nhau khi cần thiết; 2,4% thuộc diện "việc ai nấy biết" và 0,6% không quan tâm đến nhau. Khi gặp khó khăn, sinh viên tìm kiếm điểm tựa: 60% cần sự giúp đỡ của bố mẹ, 12,4% từ ông bà và 35% từ anh chị em ruột.

Về môi trường nhà trường và nếp sống học tập, quan hệ xã hội: Số liệu điều tra của Hội Sinh viên thành phố Hà Nội và khảo sát thực địa được tổng hợp chi tiết qua bảng sau:

Tiêu chí khảo sát Chỉ số định lượng cụ thể từ văn bản
Thời gian tự học hàng ngày - Tự học 3 - 4 giờ/ngày: 41,6% sinh viên
- Tự học từ 5 giờ/ngày trở lên: 8,0% sinh viên
- Tự học 1 - 2 giờ/ngày: chiếm tỷ lệ còn lại
- Sinh viên ngành tự nhiên tự học nhiều giờ hơn ngành xã hội; sinh viên giai đoạn I chăm chỉ hơn giai đoạn II; sinh viên nội trú tự học nhiều hơn ngoại trú; nam tự học trên 5 giờ nhiều hơn nữ
Địa điểm tự học - Học tại thư viện: 23,8%
- Học tại ký túc xá (hoặc ở nhà đối với sinh viên ngoại trú): 25,8%
- Học ở địa điểm khác: 50,4%
Kỷ luật học tập - Đi học muộn thường xuyên: 42,4%
- Đi học muộn không thường xuyên: 41,0%
- Tỷ lệ đi học muộn: khối xã hội (52%) cao hơn khối tự nhiên; nữ (50%) cao hơn nam (35%); nội trú (46%) cao hơn ngoại trú
- Đánh giá hiện tượng nghỉ học không lý do là phổ biến: 35,1% sinh viên
Ý thức học tập trên lớp - Ghi chép bài đầy đủ: 33,0%
- Ghi chép cẩu thả: 6,0%
- Khối xã hội ghi chép đầy đủ hơn khối tự nhiên (37%); giai đoạn I (34%) cao hơn giai đoạn II; nhóm khá giỏi (84%) cao hơn nhóm trung bình
Tần suất đến thư viện - Thường xuyên đến thư viện đọc sách, tra cứu: 15,6%
- Thỉnh thoảng đến thư viện: 56,0%
- Rất ít khi đến thư viện: 28,4%
Quan hệ ứng xử bạn bè - Sẵn sàng tận tình giúp đỡ bạn bè trong học tập: 64,8%
- Không giúp đỡ: 8,0%
- Sẵn sàng giúp đỡ bạn bè trong sinh hoạt: 60,8%
- Tạo sự đồng cảm: 18,0%; mềm mỏng, nhẹ nhàng: 17,2%; kinh miệt: 1,0%; không quan tâm: 3,4%
Thị hiếu đối với giảng viên (Khảo sát tại ĐH Thương mại) - Thích thầy cô dạy giỏi: 54,2%
- Thích thầy cô công bằng: 69,5%
- Thích thầy cô gương mẫu: 30,5%
- Thích thầy cô nghiêm túc: 40,7%
- Thích thầy cô dễ dãi, dễ cho điểm: 16,0%
Hoạt động đoàn thể và ngoại khóa - Tham gia sinh hoạt đoàn thể thường xuyên: 27,2%
- Thỉnh thoảng tham gia: 48,0%
- Không tham gia hoặc khó trả lời: 25,0%
- Hoạt động thể thao tham gia thường xuyên: 25,0% (cao nhất)
- Câu lạc bộ khoa học: 21,0%
- Hoạt động văn nghệ và đoàn thể: 12,0% (thấp nhất)

Về điều kiện nhà ở ký túc xá: Hệ thống trường đại học cả nước chỉ đáp ứng được 20 - 40% nhu cầu chỗ ở nội trú. Tại Hà Nội, có trên 6.578 sinh viên ngoại tỉnh phải thuê trọ bên ngoài (trong đó 4.300 sinh viên ở trọ nhà dân, người quen). Trong ký túc xá, điều kiện sinh hoạt chật chội: phòng rộng 14 - 16 m² bố trí từ 10 đến 12 người ở bằng giường tầng, thiếu nước sinh hoạt, trật tự trị an phức tạp, phát sinh hiện tượng đánh bạc, uống rượu say, thiếu thốn văn hóa phẩm.

Về tác động của cơ chế thị trường và sự biến đổi giá trị: Cơ chế thị trường thúc đẩy tính năng động, tự lập, xóa bỏ tâm lý ỷ lại bao cấp, kích thích học thêm tin học, ngoại ngữ, tìm việc làm thêm. Tuy nhiên, mặt trái thể hiện ở sự suy giảm lý tưởng, lối sống thực dụng. Dẫn chứng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, tác giả cảnh báo tình trạng phai nhạt lý tưởng, suy thoái đạo đức ở một bộ phận học sinh, sinh viên. Điều tra của Chương trình KX-07 cho thấy: 11% thí sinh thi đại học chọn nghề chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập cao; 2/3 tổng số sinh viên tại một trường đại học đăng ký dự thi vào khoa tiếng Anh; các môn khoa học chính trị và triết học bị xem nhẹ. Về mục đích cuộc sống, 92,8% số người được hỏi xếp địa vị xã hội lên hàng đầu trong bảng giá trị, cùng xu hướng tôn sùng tiền bạc, toan tính vật chất trong quan hệ thầy trò và bạn bè.

Chương 3: Những điều kiện và phương hướng cơ bản để xây dựng lối sống sinh viên hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện đồng bộ để xây dựng lối sống sinh viên mới, chia thành hai nhóm điều kiện và hai nhóm nội dung hành động:

Hệ thống điều kiện cơ bản:

  • Điều kiện khách quan: Bao gồm sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước; sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước định hướng XHCN; môi trường giáo dục đại học mẫu mực; chính sách đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật trường học, thư viện, ký túc xá; chính sách học bổng, hỗ trợ tài chính cho sinh viên nghèo hiếu học (như việc quyên góp 10,4 triệu đồng vào quỹ khuyến học trao cho 104.160 học sinh, sinh viên nghèo vượt khó); sự lành mạnh hóa môi trường văn hóa xã hội bên ngoài học đường.
  • Điều kiện chủ quan: Gồm ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, tự đào tạo của sinh viên; động cơ học tập đúng đắn; bản lĩnh chính trị và năng lực đề kháng trước những cám dỗ, tiêu cực của cơ chế thị trường và các luồng văn hóa độc hại.

Phương hướng cơ bản và kiến nghị:

  • Định hướng đổi mới nội dung giáo dục chính trị, đạo đức, nhân văn gắn liền với giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc.
  • Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, nâng cao trách nhiệm gương mẫu của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý trường học.
  • Đa dạng hóa các mô hình sinh hoạt đoàn thể, phong trào văn thể mỹ (phát huy sức lan tỏa của phong trào SV 96, phong trào sinh viên thanh lịch, tuổi trẻ sáng tạo) nhằm thu hút sinh viên, đẩy lùi tệ nạn xã hội.
  • Kiến nghị cụ thể với Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp chính quyền thành phố Hà Nội và các trường đại học trong việc quy hoạch khu nội trú sinh viên, tăng cường quản lý sinh viên ngoại trú, kiểm soát tệ nạn xã hội khu vực xung quanh trường học.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Bổ sung vào lý luận lối sống những nét đặc thù của lối sống sinh viên đại học trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; hệ thống hóa mối quan hệ biện chứng giữa giá trị, nhân cách và lối sống của người trí thức tương lai.
  • Về mặt thực tiễn: Khái quát hệ thống dữ liệu thực nghiệm phản ánh trung thực thực trạng lối sống sinh viên các trường đại học khu vực Hà Nội giai đoạn giữa thập niên 1990; chỉ ra hai mặt tích cực và tiêu cực dưới tác động của cơ chế thị trường.
  • Về mặt ứng dụng và giải pháp: Xác lập hệ thống các điều kiện khách quan, chủ quan và đề xuất nhóm kiến nghị khả thi phục vụ công tác chỉ đạo, tổ chức quản lý sinh viên, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại các trường đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả tự nhận định giáo dục lối sống là một đề tài rộng lớn, phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành và các tổ chức đoàn thể xã hội. Trong khuôn khổ của một luận án bậc thạc sĩ khoa học triết học, công trình mang tính chất bước đầu tiếp cận vấn đề.

Phạm vi khảo sát thực nghiệm bị giới hạn tại một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội, chưa bao quát được toàn diện sinh viên các vùng miền khác trong cả nước. Hướng nghiên cứu tiếp nối cần mở rộng địa bàn khảo sát, đi sâu phân tích cơ chế phối hợp liên ngành giữa gia đình, nhà trường và xã hội, đồng thời cập nhật sự biến động của lối sống sinh viên trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế thị trường mở cửa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Triết học Mác - Lênin, Xã hội học giáo dục và Xã hội học thanh niên khi nghiên cứu về nhân cách, định hướng giá trị và lối sống học đường.
  • Cán bộ quản lý giáo dục tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu, Phòng Công tác chính trị - sinh viên các trường đại học trong việc hoạch định chính sách quản trị nội - ngoại trú và xây dựng môi trường văn hóa học đường.
  • Đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các cấp nhằm nghiên cứu đổi mới mô hình tập hợp thanh niên, thiết kế các chương trình ngoại khóa và phong trào văn thể mỹ phù hợp với nhu cầu tâm lý sinh viên.

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là hệ thống bảng biểu số liệu điều tra thực chứng ở Chương 2 về thời gian tự học, kỷ luật lớp học, thị hiếu đối với giảng viên và thực trạng đời sống ký túc xá.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa phạm trù lối sống như thế nào theo quan điểm triết học Mác - Lênin?
Luận án xác định lối sống là một tổng thể những đặc điểm căn bản của hoạt động sống của xã hội, của các tập đoàn xã hội, của các giai cấp và các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Lối sống được quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội khách quan (chế độ kinh tế, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất), bản chất con người với tư cách chủ thể và môi trường địa lý tự nhiên.

2. Năm đặc trưng cơ bản của lối sống sinh viên hiện nay được luận án đúc kết là gì?
Tác giả tổng kết 5 đặc trưng: (1) Sống có mục đích, có niềm tin hướng tới lý tưởng cao đẹp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; (2) Sống tích cực, năng động, nhạy bén và hiệu quả trong học tập, nghiên cứu; (3) Sống có văn hóa, hiện đại, có bản lĩnh tự lập; (4) Sống có tình nghĩa, yêu thương, đoàn kết tương trợ bạn bè; (5) Có đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, gắn liền hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao.

3. Khảo sát thực tế tại các trường đại học ở Hà Nội phản ánh tình trạng tự học của sinh viên ra sao?
Số liệu cho thấy 41,6% sinh viên tự học từ 3 - 4 giờ/ngày; 8,0% tự học từ 5 giờ/ngày trở lên; 23,8% thường xuyên học tại thư viện; 25,8% học tại ký túc xá hoặc tại nhà; 50,4% học ở các địa điểm khác. Tần suất đến thư viện đọc sách, tài liệu chỉ đạt 15,6% thường xuyên; 56,0% thỉnh thoảng và 28,4% rất ít khi.

4. Cơ chế thị trường tạo ra những tác động tiêu cực nào đối với lối sống sinh viên?
Cơ chế thị trường dẫn đến sự xuất hiện của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, coi nhẹ các giá trị đạo đức truyền thống; phai nhạt lý tưởng chính trị; tâm lý chuộng các ngành nghề có thu nhập trước mắt (11% đặt thu nhập cao lên hàng đầu, dồn vào học ngoại ngữ, xem nhẹ môn khoa học chính trị và triết học); toan tính vật chất xâm nhập vào mối quan hệ thầy trò và bạn bè.

5. Thực trạng điều kiện sinh hoạt nội trú tại ký túc xá các trường đại học Hà Nội được ghi nhận như thế nào?
Ký túc xá chỉ đáp ứng được 20 - 40% nhu cầu chỗ ở; tại Hà Nội có trên 6.578 sinh viên ngoại tỉnh phải trọ bên ngoài (4.300 người trọ tại nhà dân). Các phòng ký túc xá rộng khoảng 14 - 16 m² nhưng bố trí 10 - 12 sinh viên ở giường tầng, điều kiện chật chội, thiếu nước sinh hoạt, trật tự an ninh phức tạp và tiềm ẩn các tệ nạn như rượu chè, cờ bạc.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Văn Tuyến là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, làm sáng tỏ cơ sở lý luận Mác - Lênin về lối sống và mục tiêu đào tạo con người toàn diện trong giáo dục đại học. Dựa trên số liệu khảo sát thực tế tại các trường đại học khu vực Hà Nội thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận án đã phác họa bức tranh thực trạng lối sống sinh viên với cả những mặt chuyển biến tích cực lẫn những lệch chuẩn do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra. Công trình xác lập hệ thống các điều kiện khách quan, chủ quan cùng các phương hướng, kiến nghị cụ thể nhằm định hướng, xây dựng lối sống lành mạnh cho thế hệ cán bộ tương lai của đất nước.