CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị. Kế toán quản trị là một yếu tố quan trọng của quá trình quản lý. Đặc biệt nó liên quan đến việc xác định, đo lường, trình bày, giải thích và sử dụng thông tin có liên quan để giúp các nhà quản lý điều hành tổ chức của họ.
Nó cũng cung cấp những công cụ kế toán và quản lý tài chính nhằm tạo ra, bảo vệ, bảo tồn và gia tăng giá trị cho các bên liên quan. Trong ấn phẩm “Định nghĩa kế toán quản trị” (2008) do Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) phát hành có đưa ra định nghĩa: Kế toán quản trị là công việc liên quan đến việc hỗ trợ nhà quản lý trong việc ra quyết định, hoạch định chiến lược và hệ thống quản lý hiệu quả, cung cấp chuyên môn trong việc báo cáo và kiểm soát để hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược của tổ chức. Như vậy, vai trò chính của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhà quản lý thực hiện chức năng của mình trong việc lập kế hoạch, ra quyết định và kiểm soát: - Lập kế hoạch liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu của tổ chức và xây dựng các chiến lược liên quan có thể được sử dụng để đạt được những mục tiêu đó. Để giúp cho việc lập kế hoạch, kế toán quản trị cung cấp thông tin về những gì đã xảy ra trong quá khứ giúp nhà quản lý có thể đặt ra mục tiêu có thể đạt được trong tương lai, ví dụ nhà quản lý đang lập kế hoạch doanh số bán hàng trong tương lai, người đó cần phải biết doanh số đã đạt được trong quá khứ.
Lập kế hoạch có thể bao gồm kế hoạch ngắn hạn ( kế hoạch chiến thuật) hoặc kế hoạch dài hạn ( kế hoạch chiến lược). - Ra quyết định liên quan đến việc xem xét các thông tin được cung cấp và thực hiện ra quyết định. Trong hầu hết các trường hợp, việc ra quyết định liên quan đến việc lựa chọn giữa hai hay nhiều lựa chọn khác nhau. Nhà quản lý cần những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thông tin đáng tin cậy để so sánh và hiểu được hậu quả sẽ xảy ra khi lựa chọn một phương án.
Phần đầu tiên trong quá trình ra quyết định là lập kế hoạch, và phần thứ hai là kiểm soát. - Kiểm soát bao gồm việc thu thập thông tin về kết quả thực tế xảy ra và báo cáo cho nhà quản lý. Nó giúp nhà quản lý kiểm soát hoạt động của mình hoặc có thể đánh giá lại, sửa đổi ngân sách hoặc mục tiêu. Những thông tin này thường là những thông tin nội bộ, chủ yếu với mục đích kiểm soát, phản hồi.1: Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng của nhà quản lý.
Xác định mục tiêu 2. Xác định cách thức để đạt được mục tiêu Lập kế hoạch 3. Ra quyết định nhằm đạt được mục tiêu dựa trên các thông tin được cung cấp 1. Thực hiện ra quyết định Ra quyết định 1.
Tập hợp thông tin về kết quả thực tế đạt được Kiểm soát 2. So sánh kết quả thực tế và mong muốn 3. Xem xét lại mục tiêu ( nếu cần thiết) Sơ đồ 1.2: Quy trình lập kế hoạch, ra quyết định, kiểm soát. (Kaplan, 2012) Đầu vào Hệ thống Đầu ra Kiểm soát Kế hoạch/ Ngân sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ở đây, nhà quản lý xây dựng kế hoạch, những yếu tố đầu vào ( nhân công, nguyên vật liệu, thiết bị…) và hoạt động đều được kiểm soát.
Đầu ra từ hoạt động được đo lường và báo cáo phản hồi lại cho nhà quản lý, kết quả thực tế từ báo cáo được so sánh với kế hoạch. Từ đó nhà quản lý đưa ra hành động thích hợp, đặc biệt khi hoạt động cho ra kết quả tốt hơn hoặc tệ hơn so với kế hoạch. Phản hồi từ báo cáo có thể được sử dụng để xem xét lại kế hoạch đề ra hoặc để thiết lập kế hoạch cho kỳ sắp tới. Đánh giá trách nhiệm quản lý.
Khả năng kiểm soát. Khi đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận, một trong những vấn đề quan trọng là phải phân biệt được các khoản mà nhà quản lý bộ phận có thể kiểm soát được ( do đó, họ chịu trách nhiệm về nó) và những khoản mà họ không thể kiểm soát được. Kế toán trách nhiệm cũng dựa trên nguyên tắc này. Điều này nói nên rằng, đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận chỉ nên được thực hiện đối với các khía cạnh hiệu suất mà nhà quản lý có thể kiểm soát được.
Vì vậy, nguyên tắc kiểm soát này cho rằng những khoản mục không thể kiểm soát cần được loại trừ khỏi các báo cáo dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý, hoặc ảnh hưởng của các khoản mục không thể kiểm soát cần được tính toán và trình bày riêng biệt bên cạnh những khoản mục có thể kiểm soát. Trong thực tế, các nguyên tắc năng kiểm soát có thể rất khó áp dụng. Vì có nhiều trường hợp không rõ ràng trong việc phân loại có thể kiểm soát hoặc không thể kiểm soát. Ví dụ, nếu một đối thủ cạnh tranh giảm giá bán sản phẩm của họ, đây có thể được xem là hành động không thể kiểm soát được.
Tuy nhiên, nhà quản lý có thể phản ứng với hành động đó bằng cách thay đổi giá bán của công ty mình, qua đó, có thể giảm tác động của hành vi hãng đối thủ. Vì vậy, ở đây có cả hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát. Tương tự như vậy, nếu một nhà cung cấp tăng giá sản phẩm của họ, điều này có thể được xem như là một hành động không kiểm soát được. Tuy nhiên, nhà quản lý có thể phản ứng bằng cách tìm kiếm để thay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đổi nhà cung cấp hoặc sử dụng một sản phẩm khác để giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động của nhà cung cấp.
Một lần nữa, có những hành động có khả năng kiểm soát được và không kiểm soát ở đây. Như vậy, toàn bộ hành động, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, vốn đầu tư … được sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản lý được nhắc đến trong chương này là những chỉ tiêu có thể kiểm soát được bởi nhà quản lý bộ phận. Đánh giá trách nhiệm quản lý Đánh giá trách nhiệm quản lý là khía cạnh quan trọng trong chức năng kiểm soát để ra quyết định của kế toán quản trị và nó bao gồm những nội dung sau: - Xác định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Ví dụ tổ chức nên được cơ cấu theo chức năng hay theo phân quyền và mức độ phân quyền như thế nào là thích hợp.
- Phân công trách nhiệm, người quản lý bộ phận phải chịu trách nhiệm về doanh thu , chi phí, đầu tư… - Thiết lập hệ thống đánh giá trách nhiệm quản lý trong việc hoàn thành mục tiêu. - Đánh giá hiệu quả của các hoạt động. Về căn bản, đánh giá trách nhiệm quản lý là việc xác định mức độ thực hiện của các bộ phận trong việc thực hiện kế hoạch được giao. Đánh giá trách nhiệm quản lý là phần quan trọng trong quá trình kiểm soát.
Có nhiều biện pháp đánh giá trách nhiệm quản lý khác nhau tùy theo những loại hình kinh doanh khác nhau. Các yếu tố cần được xem xét khi đánh giá trách nhiệm quản lý là: - Xác định những nguồn lực cần thiết: con người, thiết bị và thời gian để thu thập và phân tích thông tin. Chi phí và lợi ích của việc sử dụng các nguồn lực cho việc thực hiện đánh giá trách nhiệm quản lý cần được cân nhắc trước khi áp dụng. - Về mặt tổng thể, trách nhiệm quản lý cần được so sánh với mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch được hoạch định dựa trên mục tiêu tổ chức.
Nếu tổ chức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 không có mục tiêu rõ ràng, bước đầu tiên của đánh giá trách nhiệm quản lý là xây dựng chúng. Bước thứ hai là xác định các yếu tố quan trọng tác động lên sự thành công của mục tiêu này. - Các biện pháp đánh giá phải phù hợp. Điều này có nghĩa là phải tìm ra tổ chức đang làm gì và họ làm như thế nào nhằm xác định những biện pháp đánh giá trách nhiệm phản ánh những gì thực sự diễn ra.
- Trách nhiệm quản lý trong ngắn hạn và dài hạn cần được đánh giá. Mục tiêu ngắn hạn có thể quan trọng, nhưng việc chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn không có nghĩa sẽ giúp cho doanh nghiệp thành công trong dài hạn. - Các biện pháp đánh giá trách nhiệm cần công bằng. Nó chỉ nên bao gồm các yếu tố mà nhà quản lý có thể kiểm soát được thông qua các quyết định của họ, và do đó họ phải chịu trách nhiệm về nó.
- Nhiều công cụ đo lường cần được sử dụng cùng lúc. Nhà quản lý có thể tìm ra cách bóp méo kết quả nếu chỉ dùng 1 thước đo duy nhất, nhưng khó có thể cùng lúc bóp méo nhiều thước đo. Thẻ điểm cân bằng (BSC) cung cấp một cách thức đánh giá trách nhiệm quản lý thông qua nhiều phương diện là một ví dụ, các thước đo liên kết chặt chẽ với nhau và nhà quản lý sẽ rất khó bóp méo tất cả các thước đo. - Các ước tính cần được xây dựng sát thực tế nhất có thể.
Chúng bao gồm việc ước tính những khoản mục tài chính có giá trị không chắc chắn, ví dụ như chi phí sử dụng vốn, và các ước tính này cũng có thể ảnh hưởng tới các chỉ tiêu phi tài chính. - Đánh giá trách nhiệm quản lý cần có được sự hưởng ứng, hơn tất cả, nhà quản lý đưa ra quyết định vì lợi ích cốt lõi của tổ chức. Nhà quản lý chỉ hưởng ứng việc đánh giá trách nhiệm nếu như họ thấy nó hữu ích. Do đó, kế toán quản trị cần phải tiếp cận những triết lý thị trường hiện đại để xây dựng hệ thống đánh giá trách nhiệm quản lý : đáp ứng những gì khách hàng muốn, chứ không phải mua rẻ bán đắt.
- Một công cụ đánh giá trách nhiệm quản lý thích hợp được chọn cần được kiểm soát một cách thường xuyên nhằm đảm bảo rằng nó đang cung cấp thông tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hữu ích.