CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quát về kế toán trách nhiệm 1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm là thuật ngữ dùng để mô tả sự phân cấp thẩm quyền gắn với việc đo lường mức độ thực hiện của các trung tâm phân cấp dưới góc độ kế toán. Kế toán trách nhiệm là một nội dung của kế toán quản trị. Kể từ khi được đề cập đến lần đầu tiên tại Mỹ trong tác phẩm “Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting” của Ailman, H.1950 đến nay, kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu và vận dụng khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất cho kế toán trách nhiệm.
Trong đó có một số quan điểm nổi bật: • Theo nhóm tác giả Clive R. Merchant (1990) có quan điểm về kế toán trách nhiệm như sau: Kế toán trách nhiệm là việc thu thập và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức. Theo quan điểm này kế toán trách nhiệm được xem xét từ chi phí, thu nhập, lợi nhuận đến những người chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu đó. Kế toán trách nhiệm phù hợp với các tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cáo thực hiện chuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp dưới.
• Theo nhóm tác giả Anthony A. Banker, Robert Kaplan, S. Young (2001) thì kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức. Theo đó nhóm tác giả còn nhấn mạnh việc đánh giá trách nhiệm thành quả mỗi nhà quản lý dựa trên các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không kiểm soát đối với một cấp quản lý.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 • Nhóm tác giả Jerry J. Kieso (2002), kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, nó liên quan đến việc tích lũy, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra những quyết định trong hoạt động hàng ngày về các vấn đề đó. • Theo nhóm tác giả D. Jurgens (2004) thì kế toán trách nhiệm là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan, về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty – những đơn vị trong tổ chức được đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý.
Theo đó, kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin chủ yếu thông qua việc so sánh kết quả hoạt động thực tế của đơn vị với kế hoạch được giao. Venkat Rathnam và K. Raji Reddy (2008) trình bày quan điểm của mình về kế toán trách nhiệm như sau: kế toán trách nhiệm là một hệ thống kiểm soát của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy uyền và phân định trách nhiệm. Sự ủy quyền được giao đến từng trung tâm trách nhiệm, nhà quản lý phải chịu trách nhiệm theo từng phân khu, các phân khu này có thể là các bộ phận, chi nhánh hay phòng ban.
Martin (2012), kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong tổ chức. Đó là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu và chi phí mà mỗi bộ phận đều có quyền và trách nhiệm riêng biệt. Với quan điểm này, tác giả đã dựa trên cơ sở phân chia tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm, các bộ phận được giao quyền để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc đó. Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên sự phân cấp và đòi hỏi cấp trên phải theo dõi vfa đánh giá kết quả của các cấp dưới.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Qua các quan điểm về kế toán trách nhiệm đã nêu trên, có thể hiểu về kế toán trách nhiệm như sau: kế toán trách nhiệm là một bộ phận cấu thành nội dung của kế toán quản trị, là hệ thống thông tin được tập hợp, lập báo cáo qua đó kiểm tra các quá trình hoạt động, đánh giá kết quả và hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức có phân quyền. Kế toán trách nhiệm sử dụng cả thông tin tài chính và phi tài chính được thiết kế phù hợp và có liên quan đến quá trình thực hiện trách nhiệm quản lý của từng cấp quản lý.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết lập để có thể ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó lập các báo cáo thực hiện nhằm phục vụ cho các nhà quản lý kiểm soát được hoạt động và chi phí của họ. Nói cách khác, kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm. Kế toán trách nhiệm đo lường, đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
Việc đánh giá này thường được dựa trên hai tiêu chí hiệu quả và hiệu năng. • Kết quả: nó được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra cho trung tâm trách nhiệm đó, mà chưa kể đến việc sử dụng tài nguyên như thế nào. Nói cách khác, đây chính là mức độ hoàn thành mục tiêu của trung tâm trách nhiệm. • Hiệu quả: là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm.
Nói cách khác, đó chính là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được với nguồn lực thực tế mà trung tâm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó. Như vậy, để có thể đánh giá được kết quả và hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm, chúng ta phải lượng hóa được đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách nhiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Trên cở sở đó sẽ xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm cụ thể.3 Vai trò của kế toán trách nhiệm • Cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm, xây dựng các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện trách nhiệm quản lý tại các bộ phận, xác định mức độ đóng góp của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. • Cung cấp phản hồi hỗ trợ việc lập kế hoạch của nhà quản lý.
Các báo cáo của kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin phản hồi để nhà quản lý nắm bắt tình hình thực hiện thực tế so với kế hoạch, đồng thời dựa vào đó để tìm ra những khó khăn, hạn chế giúp cho nhà quản lý ra những quyết định điều chỉnh kịp thời đảm bảo doanh nghiệp vẫn đi đúng mục tiêu. Ngoài ra những phản hồi này cũng giúp nhà quản lý trong trong việc lập kế hoạch cho ký sau. • Định hướng các nhà quản lý hướng tới mục tiêu của bộ phận và mục tiêu chung của tổ chức. Khuyến khích các bộ phận, các nhà quản lý chủ động sáng tạo trong việc điều hành bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao gắn với mục tiêu chung của tổ chức 1.2 Nội dung cấu thành hệ thống kế toán trách nhiệm Nội dung cơ bản để thực hiện hệ thống kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề cụ thể như sau: • Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm.
• Xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý. • Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Sự phân cấp quản lý Trong một tổ chức tập quyền, một cá nhân duy nhất (thường là người sở hữu, chủ tịch của công ty) được toàn quyền ra quyết định và giữ hoàn toàn trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động của tổ chức mình. Tuy nhiên, tại một tổ chức tập quyền như vậy, một cá nhân duy nhất đó sẽ không đủ chuyên môn và thông tin để ra các quyết định một cách hiệu quả.
Trong thực tế, mỗi tổ chức thường có hoạt động đa dạng, một tổ chức phân quyền thường được phân chia thành nhiều cấp quản lý khác nhau, mỗi cấp quản lý sẽ hoạt động như một cá thể độc lập. Sự phân quyền là sự chuyển giao quyền lực, trách nhiệm từ quản lý cấp cao xuống quản lý cấp thấp hơn. Phân quyền không có nghĩa là các nhà quản lý cấp dưới có quyền quyết định tất cả tại cấp của mình. Nhà quản lý cấp cao sẽ quyết định những quyền được chuyển giao cho nhà quản lý cấp dưới.
Ngay cả khi các chức năng và quyền quyết định các chức năng đó đã được chuyển giao thì nhà quản lý cấp cao vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Do đó, hệ thống kế toán và báo cáo phải được thực hiện đầy đủ để cung cấp thông tin cho nhà quản lý cấp cao. Một tổ chức thường xác định mức độ phân quyền phù hợp dựa trên các yếu tố sau: • Tính cách của nhà quản lý. • Bản chất của quyết định được chuyển giao.
• Loại hoạt động mà công ty đang tham gia. Ưu điểm của sự phân cấp quản lý: • Ở từng cấp quản lý, nhà quản lý cấp cơ sở sẽ hiểu và có kinh nghiệm điều hành trong lĩnh vực mà họ quản lý, giúp cho hoạt động tại bộ phận đạt được hiệu quả cao nhất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 • Việc cho phép các nhà quản lý cấp cơ sở tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình giúp họ trưởng thành hơn trong công việc, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao, phù hợp với hướng phát triển của tổ chức. • Việc phân quyền cho nhiều cấp quản lý từ cao đến thấp, các nhà quản lý cấp cao bớt phải giải quyết rất nhiều vấn đề xảy ra hàng ngày và do đó có thời gian tập trung lập các kế hoạch chiến lược cho doanh nghiệp.
• Sự phân cấp quản lý giúp tăng thêm trách nhiệm, động lực để nhà quản lý các cấp hoàn thành công việc được giao.