Tổng quan nghiên cứu

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Điều 28 Luật Giáo dục đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển từ lối truyền thụ một chiều sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông, đặc biệt là phân môn Đọc - hiểu văn bản, khoảng 60% học sinh vẫn rơi vào tình trạng thụ động, ghi nhớ máy móc do thói quen "thầy đọc, trò chép". Tình trạng giờ học thiếu hứng thú diễn ra phổ biến khi tiếp cận các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945 bởi khoảng cách lớn về hoàn cảnh lịch sử, tâm lý thời đại và quan điểm nghệ thuật.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Loan, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Tôn Quang Cường, tập trung giải quyết triệt để vấn đề này. Mục tiêu then chốt của công trình là xác lập cơ sở khoa học và xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề mang tính ứng dụng cao trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 cho học sinh lớp 11.

Phạm vi nghiên cứu đi sâu vào thực tiễn dạy học hai tác phẩm tiêu biểu trong chương trình là "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân tại Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) trong năm học 2015 – 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được khẳng định thông qua việc nâng tỷ lệ học sinh chủ động tham gia xây dựng bài lên trên 85%, đồng thời cải thiện rõ rệt năng lực tư duy phản biện, cảm thụ thẩm mỹ và kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dạy học nêu vấn đề có lịch sử từ triết học Socrát, quan điểm mâu thuẫn nhận thức của Khổng Tử, đến các công trình sư phạm hiện đại của V. Kôvalép, A.Acbaseva và Giáo sư Phan Trọng Luận. Luận văn vận dụng mô hình dạy học giải quyết vấn đề kết hợp tiếp cận liên môn dựa trên 4 quan điểm tích hợp của d'Hainaut, gắn kết chặt chẽ giữa Văn học với Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân và Văn hóa nghệ thuật.

Khung lý thuyết của đề tài làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Vấn đề trong tác phẩm: Nhân tố khách quan phản ánh bản chất đời sống và tư tưởng của nhà văn.
  2. Tình huống có vấn đề: Trạng thái tâm lý đặc biệt khi học sinh nhận ra mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết.
  3. Câu hỏi nêu vấn đề: Cấu trúc ngôn ngữ mang tính mệnh lệnh đòi hỏi người học vận dụng tri thức nền để tìm tòi tri thức mới.
  4. Tiếp nhận văn học: Hoạt động sáng tạo của "bạn đọc học sinh" dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
  5. Đặc trưng thi pháp văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945: Sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn, bút pháp tương phản và chất liệu hiện thực giàu giá trị nhân văn.

Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề được phân loại khoa học thành 5 nhóm cấu trúc:

  • Câu hỏi mâu thuẫn: Tạo xung đột giữa hình thức và nội dung hoặc giữa các hành vi nhân vật.
  • Câu hỏi bất ngờ: Khai thác tín hiệu nghệ thuật độc đáo, khác thường.
  • Câu hỏi lựa chọn: Đặt học sinh vào tình huống đánh giá đa chiều để tìm phương án tối ưu.
  • Câu hỏi phản bác: Rèn luyện tư duy tranh luận trước các nhận định chưa chuẩn xác.
  • Câu hỏi giả định: Đặt người học vào vị trí nhân vật để trải nghiệm và ứng xử.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 12 tiết dự giờ quan sát thực tế và phiếu điều tra khảo sát thực trạng của đội ngũ giáo viên, học sinh tại Trường THPT Lương Thế Vinh. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm gồm 84 học sinh khối 11, được chia thành hai nhóm độc lập: lớp thực nghiệm 11A1 (42 học sinh) và lớp đối chứng 11A2 (42 học sinh).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính tương đồng về chất lượng đầu vào, điều kiện học tập và nền tảng nhận thức lứa tuổi từ 15 đến 18 tuổi. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp nghiên cứu lý luận, điều tra xã hội học, thực nghiệm sư phạm đối chứng và thống kê toán học (kiểm định thang điểm 10, phân tích bảng tần số, tính toán phần trăm độ lệch). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác mức độ tiến bộ của học sinh trong suốt timeline thực hiện từ tháng 3/2015 đến tháng 1/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu khảo sát và thực nghiệm mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, việc áp dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề giúp nâng cao vượt trội chất lượng học tập môn Ngữ văn. Tại bài kiểm tra tổng hợp sau thực nghiệm bài "Hai đứa trẻ" và "Chữ người tử tù", tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi (từ 6.5 đến 10.0 điểm) ở lớp thực nghiệm đạt 78.6%, cao hơn 21.4% so với lớp đối chứng (chỉ đạt 57.2%). Tỷ lệ điểm trung bình và yếu ở lớp thực nghiệm giảm mạnh xuống mức 21.4%, trong khi lớp đối chứng chiếm tới 42.8%.

Thứ hai, mức độ hứng thú và năng lực tự chủ trong giờ học có sự thay đổi rõ nét. Khoảng 85.7% học sinh ở nhóm thực nghiệm tích cực tranh luận, xung phong phân tích các chi tiết biểu tượng (như ngọn đèn chị Tý hay ánh sáng bó đuốc trong cảnh cho chữ), tăng hơn gấp đôi so với mức 33.3% ở lớp đối chứng học theo phương pháp truyền thống.

Thứ ba, câu hỏi mâu thuẫn và câu hỏi bất ngờ chiếm hơn 65% sự chú ý và tạo ra không khí thảo luận sôi nổi nhất. Học sinh bộc lộ năng lực giải mã các tầng nghĩa sâu kín của tác phẩm thay vì ghi nhớ thụ động từ tài liệu sách giải.

Thứ tư, phương pháp tích hợp liên môn giúp khoảng 80% học sinh hiểu sâu bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, từ đó liên hệ xuất sắc với các giá trị đạo đức, lối sống hướng thiện trong môn Giáo dục công dân.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm 11A1 và lớp đối chứng 11A2 có thể được biểu diễn rõ ràng qua biểu đồ cột phân phối điểm số và bảng đối sánh định lượng. Ở lớp đối chứng, đường phân phối điểm tập trung chủ yếu ở mức trung bình (5.0 – 6.0 điểm), phản ánh sự thiếu hụt khả năng tư duy phân tích độc lập. Ngược lại, biểu đồ của lớp thực nghiệm lệch hẳn về phía điểm khá - giỏi (7.0 – 9.0 điểm).

Cơ chế tạo nên sự đột phá này bắt nguồn từ việc câu hỏi nêu vấn đề đã đánh trúng "vùng phát triển gần nhất" của học sinh lứa tuổi 15 – 18 tuổi. Khi đối diện với các nghịch lý trong tác phẩm, học sinh xuất hiện trạng thái căng thẳng trí tuệ tích cực, thúc đẩy nhu cầu tìm tòi tri thức mới. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Ivan Hanel về kỹ thuật đặt câu hỏi hiệu quả cao (HEO) và khẳng định của Giáo sư Phan Trọng Luận về vai trò của bạn đọc sáng tạo. Phương pháp này chứng minh rằng học sinh tại các trường dân lập với điểm đầu vào trung bình vẫn hoàn toàn có khả năng chiếm lĩnh kiến thức đỉnh cao nếu được định hướng bằng hệ thống câu hỏi sư phạm chuẩn mực.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Thiết kế ngân hàng câu hỏi phân loại theo 5 dạng tình huống: Giáo viên tổ Ngữ văn tại các trường THPT cần xây dựng tối thiểu 20 câu hỏi nêu vấn đề cho mỗi tác phẩm văn xuôi lãng mạn trọng tâm, bảo đảm mục tiêu nâng tỷ lệ câu hỏi phát triển tư duy phản biện lên ít nhất 60% trong toàn bộ giáo án giảng dạy từ năm học 2016 – 2017.
  2. Chuẩn hóa quy trình dạy học tích hợp liên môn: Ban giám hiệu và tổ chuyên môn cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn định kỳ 2 tuần một lần theo mô hình nghiên cứu bài học, tăng cường liên kết tri thức Văn học – Lịch sử – Địa lý – Giáo dục công dân nhằm giúp học sinh tái hiện toàn diện bức tranh hiện thực 1930 – 1945.
  3. Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng mở: Đề xuất Sở Giáo dục & Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục điều chỉnh cấu trúc đề kiểm tra định kỳ 1 tiết và học kỳ, nâng tỷ lệ câu hỏi giải quyết vấn đề và câu hỏi mở lên mức 40% nhằm triệt tiêu lối học vẹt, chép văn mẫu.
  4. Xây dựng môi trường học tập tương tác đa phương tiện: Nhà trường cần đầu tư phòng học bộ môn và cung cấp nguồn tư liệu hình ảnh, video về bối cảnh văn hóa - lịch sử phong kiến suy tàn trong vòng 12 tháng để hỗ trợ học sinh trực quan hóa không gian nghệ thuật của tác phẩm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giáo viên Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp bộ câu hỏi thực nghiệm và giáo án mẫu cho các tác phẩm "Hai đứa trẻ", "Chữ người tử tù" nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy trên lớp, tạo hứng khởi học tập cho học sinh.
  2. Cán bộ quản lý chuyên môn và Chuyên viên Sở/Phòng GD&ĐT: Ứng dụng khung lý thuyết và tiêu chí đánh giá câu hỏi nêu vấn đề để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo định hướng phát triển năng lực của Nghị quyết 29-NQ/TW.
  3. Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và xử lý số liệu định lượng trong nghiên cứu khoa học giáo dục.
  4. Tác giả biên soạn chương trình và tài liệu giáo khoa: Tiếp cận các đề xuất về tích hợp liên môn và cấu trúc câu hỏi hướng dẫn học bài nhằm hoàn thiện hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi nêu vấn đề khác biệt thế nào so với câu hỏi tái hiện kiến thức thông thường?

Câu hỏi tái hiện chỉ đòi hỏi học sinh ghi nhớ và nhắc lại các dữ kiện có sẵn trong văn bản, ví dụ như miêu tả phố huyện lúc chiều tàn. Ngược lại, câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, buộc học sinh phải vận dụng tư duy tổng hợp để lý giải bản chất, chẳng hạn như phân tích ý nghĩa triết lý của hình ảnh ngọn đèn chị Tý lặp lại nhiều lần.

Làm thế nào để thiết lập một tình huống có vấn đề thành công trong giờ Đọc - hiểu văn bản?

Giáo viên cần dựa vào 3 yếu tố cốt lõi: phát hiện tình huống mâu thuẫn trong hành động hoặc tâm trạng nhân vật, khai thác các chi tiết nghệ thuật bất thường mang tính biểu tượng, và căn cứ vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh để đặt câu hỏi vừa sức nhưng kích thích tính tò mò khám phá.

Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong luận văn gồm những dạng cụ thể nào?

Hệ thống được chuẩn hóa thành 5 dạng câu hỏi: câu hỏi mâu thuẫn (tìm xung đột bản chất), câu hỏi bất ngờ (giải mã tín hiệu lạ), câu hỏi lựa chọn (đánh giá các phương án), câu hỏi phản bác (tranh luận quan điểm sai lệch) và câu hỏi giả định (đặt mình vào hoàn cảnh nhân vật để đưa ra ứng xử).

Phương pháp tích hợp liên môn được ứng dụng ra sao trong tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù?

Khi dạy "Hai đứa trẻ", giáo viên tích hợp Địa lý (phố huyện Cẩm Giàng), Lịch sử trước năm 1945 và Giáo dục công dân (nghị lực vượt khó). Với "Chữ người tử tù", giáo viên tích hợp Lịch sử triều Nguyễn, Văn hóa nghệ thuật thư pháp và Giáo dục công dân về ý thức giữ gìn thiên lương trong sạch.

Học sinh có học lực trung bình tại trường ngoài công lập có thể tiếp thu tốt phương pháp này không?

Thực nghiệm sư phạm trên 84 học sinh tại Trường THPT Lương Thế Vinh cho thấy phương pháp này đặc biệt hiệu quả với học sinh có học lực trung bình. Tỷ lệ điểm khá giỏi của lớp thực nghiệm tăng 21.4% và mức độ hào hứng phát biểu đạt trên 85%, chứng minh phương pháp kích hoạt đúng tiềm năng nhận thức của mọi đối tượng người học.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp dạy học nêu vấn đề trong phân môn Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 11.
  • Xây dựng chuẩn xác 5 nhóm câu hỏi nêu vấn đề tương thích với đặc trưng thi pháp của dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
  • Thiết kế trọn vẹn bộ giáo án thực nghiệm sư phạm mẫu cho hai tác phẩm kinh điển "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt bậc qua thực nghiệm định lượng với tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng 21.4% và tỷ lệ tương tác tích cực đạt 85.7%.
  • Đóng góp giải pháp tích hợp liên môn thiết thực nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học theo chuẩn đổi mới giáo dục phổ thông.

Trong lộ trình nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn 2016 – 2020 và các năm tiếp theo, việc mở rộng ngân hàng câu hỏi nêu vấn đề cho toàn bộ chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông là bước đi tất yếu. Quý thầy cô giáo, nhà nghiên cứu và các bạn học viên hãy tham khảo, áp dụng ngay các giải pháp khoa học từ luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Loan để kiến tạo những giờ học văn học giàu cảm hứng, sáng tạo và hiệu quả vượt trội.