lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xác định hàm cầu tiền Chƣơng 2: Xác định hàm cầu tiền của Việt Nam Chƣơng 3: Ứng dụng hàm cầu tiền trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẦU TIỀN 1. Khái niệm mức cầu tiền Mức cầu tiền tệ là số lƣợng tiền tệ mà dân chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nƣớc cần nắm giữ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và bảo toàn giá trị trong điều kiện giá cả và biến số vĩ mô cho trƣớc. Có thể nói, nếu nhu cầu về hàng hóa xuất phát từ chính giá trị sử dụng của chúng thì mục đích nắm giữ tiền lại nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi thanh toán chứ không xuất phát từ giá trị bản thân của nó. Vì vậy, bắt nguồn từ chính khả năng thỏa mãn đƣợc mọi nhu cầu của tiền mà nhu cầu nắm giữ nó ngày càng gia tăng, khó có thể đo đếm đƣợc, điều này cũng tạo áp lực và khó khăn lớn cho các nhà xây dựng chính sách vĩ mô.
Nếu lƣợng tiền cung ứng ra ngoài nền kinh tế lớn hơn so với nhu cầu tiền thực tế, sẽ khiến dƣ thừa và không hấp thụ đƣợc hết lƣợng vốn cung ứng. Sự chênh lệch giữa lƣợng tiền và lƣợng hàng hóa trong nền kinh tế nhƣ vậy dễ dẫn tới hiện tƣợng cầu kéo gây ra lạm phát gia tăng. Ngƣợc lại, nếu lƣợng tiền cung ứng thấp hơn nhu cầu tiền thực sự của nền kinh tế sẽ đẩy lãi suất huy động tăng cao kéo theo lãi suất cho vay tăng cao ảnh hƣởng tới nền sản xuất trong nƣớc đồng thời gây ra khả năng không đạt đƣợc mục tiêu của CSTT. Vì vậy, muốn xác định đúng nhu cầu thực tế cần phải xây dựng hàm cầu tiền, từ đó, NHNN có thể điều hành thị trƣờng tiền tệ một cách chính xác linh hoạt hơn.
Tuy lý thuyết về cầu tiền của các nƣớc không hoàn toàn giống nhau nhƣng nhìn chung chúng đều đƣợc xây dựng dựa trên việc xem xét vai trò và chức năng của tiền. Thông thƣờng khi nói đến các chức năng của tiền ngƣời ta thƣờng đề cập tới 3 chức năng: tiền là phƣơng tiện trao đổi, tiền là phƣơng tiện cất trữ giá trị, tiền là phƣơng tiện hạch toán. Trong ba chức năng đó thì chức năng thứ 3 của tiền cũng giống nhƣ chức năng rất nhiều các phƣơng tiện khác có thể sử dụng để ghi chép, để tính toán. Do đó, để thực hiện công việc hạch toán thì không nhất thiết phải sử dụng phƣơng tiện là tiền.
Chính vì lý do đó mà các lý thuyết cầu tiền hầu nhƣ chỉ xem xét 7 chức năng phƣơng tiện trao đổi và phƣơng tiện cất trữ giá trị. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét các lý thuyết cầu tiền từ trƣờng phái kinh tế học cổ điển cho đến nay để thấy đƣợc quan niệm các trƣờng phái kinh tế học về chức năng của tiền và các yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu nắm giữ tiền theo quan điểm đó. Các học thuyết về mức cầu tiền tệ 1. Học thuyết về số lƣợng tiền tệ của Fisher.
Trong lý thuyết của mình, nhà kinh tế học Mỹ Irving Fisher đƣa ra mối quan hệ giữa tổng lƣợng tiền tệ (M) với tổng chi tiêu để mua hàng hoá, dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế dựa trên một khái niệm gọi là tốc độ lƣu thông tiền tệ theo phƣơng trình trao đổi tính theo giá trị danh nghĩa của tổng thu nhập trong nền kinh tế: Trong đó, P là giá bình quân mỗi giao dịch, V là tốc độ vòng quay của tiền tệ đo lƣờng số lần trung bình trong một năm một đơn vị tiền tệ đƣợc chi dùng để mua tổng số hàng hoá, dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế, Y là tổng sản phẩm. Qua phƣơng trình trên, Fisher lập luận rằng tốc độ vòng quay của tiền tệ bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi cách thức các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện giao dịch. Chẳng hạn nếu cá nhân sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán thay vì dùng tiền mặt sẽ tiết kiệm thời gian luân chuyển của tiền, từ đó làm cho V lớn hơn. Tuy nhiên, quá trình thay đổi cách thức giao dịch của các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra khá chậm, do đó về mặt ngắn hạn nên V thƣờng ít thay đổi.
Bên cạnh đó, tiền lƣơng và giá cả hoàn toàn linh hoạt nên coi mức tổng sản phẩm đƣợc sản xuất trong nền kinh tế (Y) thƣờng đƣợc giữ ở mức công ăn việc làm đầy đủ, do vậy Y có thể đƣợc coi một cách hợp lý là không thay đổi trong thời gian ngắn. Khi thị trƣờng tiền tệ cân bằng: số lƣợng tiền các tổ chức và cá nhân nắm giữ (M) bằng số lƣợng tiền đƣợc yêu cầu (MD), vì vậy: Trong đó : là một hằng số. 8 Nhƣ vậy, theo Fisher thì dân cƣ chỉ giữ tiền để tiến hành với mục đích giao dịch mà không có mục đích gì khác do đó mà cầu tiền là cầu giao dịch và phụ thuộc vào thu nhập danh nghĩa do đó mà hàm cầu tiền của Fisher không cho thấy ảnh hƣởng của lãi suất đến cầu tiền. Học thuyết về cầu tiền của Cambridge Trong khi Irving Fisher đang phát triển quan điểm học thuyết số lƣợng tiền tệ của mình về cầu tiền thì một nhóm các nhà kinh tế thuộc đại học Cambridge, Anh đại diện là Alfred Marshall (1923) và A.
Pigou (1917) cũng nghiên cứu cùng vấn đề đó. Mặc dù sự phân tích của họ đƣa đến một phƣơng trình tƣơng tự nhƣ phƣơng trình cầu tiền của Fisher ( M D = k × PY ), nhƣng cách tiếp cận của họ khác với cách tiếp cận của Fisher. Thay vì nghiên cứu cầu tiền tệ bằng cách chỉ nhìn vào mức giao dịch và cách thức các chủ thể kinh tế tiến hành giao dịch, coi đó là những yếu tố quyết định chủ chốt, những nhà kinh tế thuộc đại học Cambridge đặt câu hỏi xem các cá nhân sẽ muốn giữ bao nhiêu tiền. Theo các nhà kinh tế đại học Cambridge, các cá nhân có sự linh hoạt trong quyết định nắm giữ tiền và không bị ràng buộc ở cách thức giao dịch (tức là quyết định nắm giữ bao nhiêu tiền của họ không phụ thuộc vào việc họ dùng tiền mặt hay tiền tín dụng trong giao dịch).
Có hai lý do khiến ngƣời ta muốn nắm giữ tiền: Thứ nhất, tiền là phƣơng tiện trao đổi cho nên ngƣời ta cần tiền để tiến hành các giao dịch của mình. Các nhà kinh tế đại học Cambridge đồng ý với Fisher rằng số lƣợng tiền tệ mà các cá nhân muốn nắm giữ sẽ phụ thuộc vào mức độ giao dịch và do vậy sẽ phụ thuộc vào thu nhập danh nghĩa (PY). Tuy nhiên chỉ có bộ phận cầu tiền dành cho giao dịch là tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa mà thôi. Thứ hai, khác với Fisher, các nhà kinh tế đại học Cambridge cho rằng ngƣời ta còn nắm giữ tiền nhƣ là phƣơng tiện cất giữ của cải cho nên mức của cải của con ngƣời cũng ảnh hƣởng đến cầu tiền tệ.
Bởi vì Alfred Marshall và A. Pigou tin rằng giá trị danh nghĩa của của cải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa cho nên bộ phận cầu tiền cho mục đích cất trữ của cải cũng tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa. Từ đó các nhà kinh tế đại học Cambridge kết luận rằng cầu tiền phải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa và biểu thị hàm số cầu tiền tệ nhƣ sau: 9 (với k là hằng số của tỷ lệ) Khác với Fisher, ở phƣơng trình này k có thể biến động trong thời hạn ngắn bởi vì những quyết định dùng bao nhiêu tiền để cất giữ của cải phụ thuộc vào lợi tức dự tính về các tài sản khác mà cũng hoạt động nhƣ phƣơng tiện cất giữ của cải. Nếu lợi tức dự tính của các tài sản khác thay đổi thì k cũng có thể thay đổi.
Hệ số k vì thế còn đƣợc gọi là hệ số "ƣa thích tiền" vì nó cho biết các chủ thể kinh tế muốn nắm giữ bao nhiêu tiền trong tổng thu nhập của mình. Tóm lại, Irving Fisher và các nhà kinh tế trƣờng phái Cambridge đã phát triển một cách tiếp cận cổ điển về cầu tiền, theo đó cầu tiền tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa. Tuy nhiên, hai cách tiếp cận của họ khác nhau ở chỗ Fisher nhấn mạnh các nhân tố kỹ thuật giao dịch và bác bỏ mọi khả năng của lãi suất ảnh hƣởng đến cầu tiền tệ trong ngắn hạn, trong khi trƣờng phái Cambridge nhấn mạnh sự lựa chọn của cá nhân và không bác bỏ những ảnh hƣởng của lãi suất mặc dù họ cũng không khai thác những ảnh hƣởng rõ ràng của lãi suất đối với cầu tiền tệ. Có thể thấy lý thuyết cầu tiền của Fisher và Cambridge là lý thuyết cầu tiền giao dịch, theo đó, cầu tiền phụ thuộc chính vào thu nhập danh nghĩa.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu cầu tiền của họ thì lãi suất cũng đƣợc nói tới khi giải thích nhu cầu nắm giữ tiền nhƣng không có ai trong số họ giải thích một cách thoả đáng tầm quan trọng của lãi suất. Học thuyết về cầu tiền tệ của trƣờng phái Keynes Vào năm 1936, cuốn sách với tựa đề “Lý thuyết chung về việc làm,lãi suất và tiền tệ” của Jond Maynard Keynes đã thể hiện sự không đồng tình của ông đối với các quan điểm cho rằng vòng quay của tiền tệ là bất biến. Lý thuyết về cầu tiền tệ của ông cũng nhấn mạnh đến vai trò của lãi suất. Keynes cho rằng có ba động cơ thúc đẩy dân cƣ muốn nắm giữ tiền đó là : động cơ về giao dịch, động cơ về dự phòng và động cơ về đầu cơ.
Trên cơ sở đó Keynes phân chia cầu tiền thành ba thành phần tƣớng ứng là: cầu giao dịch, cầu dự phòng và cầu đầu cơ. Cầu tiền sẽ là một hàm số của thu nhập (Y) và lãi suất (i): 10 Từ phƣơng trình trên ta thấy học thuyết về cầu tiền hàm ý rằng tốc độ vòng quay của tiền (P*Y/M) không phải là không đổi mà nó biến động theo lãi suất. Cụ thể: Để làm rõ hơn, chúng ta cùng tìm hiểu về sự phát triển thêm cách tiếp cận học thuyết này của các nhà kinh tế Baulmon (1952) và Tobin (1956). Cầu giao dịch Cầu giao dịch là nhu cầu nắm giữ tiền phục vụ cho mục đích thanh toán hàng hóa và dịch vụ thƣờng xuyên.