Chương 1: Vai trò đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội Biên phòng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội Biên phòng trước yêu cầu bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới hiện nay. Chương 3: Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội Biên phòng đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ Quyền an ninh biên giới nước ta hiện nay. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VAI TRÕ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÕNG TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA 1.
Nội dung nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia 1. Khái niệm về chủ quyền an ninh biên giới quốc gia Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt phẳng đứng, theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Biên giới quốc gia, là giới hạn xác định lãnh thổ của một quốc gia. Vì vậy, biên giới là vấn đề thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia.
Bất kể dân tộc nào cũng vậy, muốn bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc, trước hết phải bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia. Chính vì thế, các nước có chung biên giới thường có các hiệp định, hiệp ước, qui chế về biên giới và tổ chức các lực lượng nòng cốt chuyên trách bảo vệ biên giới. Lãnh thổ quốc gia là một phần của quả đất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời, giới hạn bởi biên giới quốc gia và thuộc chủ quyền của một quốc gia. Do đó, chủ quyền lãnh thổ là quyền lực tối cao tuyệt đối và toàn diện của Nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tài nguyên, môi trường, sinh thái; nó vừa thể hiện quyền uy, vừa là lợi ích của quốc gia được pháp luật và công ước quốc tế thừa nhận.
Nhà nước là chủ sở hữu quản lý và bảo vệ lãnh thổ. An ninh biên giới quốc gia gồm: An ninh chính trị, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh xã hội và an ninh kinh tế ở khu vực biên giới, trong đó chỉ sự yên ổn, vững chắc của một chế độ chính trị-xã hội, sự nhất trí về chính trị tinh thần của nhân dân, trật tự an toàn xã hội, ý thức về quốc gia-dân tộc, biên giới-lãnh thổ mang ý nghĩa quan trọng. Sự toàn vẹn lãnh thổ, sự an toàn của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường biên, cột mốc, sự tôn trọng luật pháp về biên giới và chủ quyền biên giới quốc gia, không có sự vi phạm qui chế biên giới và tính vững chắc của chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. An ninh biên giới quốc gia gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Đảng, Nhà nước, chế độ và của cả dân tộc trước mắt và lâu dài.
Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia, dân tộc, được pháp luật và tập quán quốc tế thừa nhận. Đó là quyền lực tối cao của Nhà nước đối với mọi vấn đề trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và sự độc lập của quyền lực đó trong các quan hệ quốc tế. Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại và các quan hệ quốc tế, được ghi nhận trong hiến chương của Liên hợp quốc. Vì vậy, việc hoạch định biên giới quốc gia dựa trên cơ sở các điều ước quốc tế về biên giới giữa các nước có chung đường biên giới, hoặc được xác định bằng các văn bản pháp lý nội bộ của từng nước.
Khái lược về tình hình biên giới nước ta Biên giới đất liền nước ta dài 4667 km, tiếp giáp với 3 nước đó là: Cộng hoà nhân dân Trung Quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Cămpuchia. Địa hình khu vực biên giới hết sức đa dạng, phức tạp, chủ yếu là rừng núi, khe suối hiểm trở, việc đi lại rất khó khăn và là địa bàn tập trung nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Trong đó: Biên giới Việt Nam - Trung Quốc dài 1463km được hoạch định cắm mốc theo hiệp định năm 1887 giữa toàn quyền Pháp ở Đông Dương và triều đình phong kiến Mãn Thanh. Trong kháng chiến chống Pháp, đây là vùng biên giới hữu nghị.
Từ giữa những năm 1960 và những năm 1970, tình trạng xâm canh, xâm cư, qua lại biên giới trái phép, lấn chiếm, gây rối do phía Trung Quốc gây nên ngày càng nhiều. Đến tháng 02/1979 Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta. Từ tháng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3/1979 quan hệ biên giới Việt Nam - Trung Quốc càng trở nên phức tạp, gay gắt. Trong lịch sử của Trung Quốc từ trước đến nay, một quan điểm luôn luôn nhất quán là sử dụng vấn đề biên giới vừa làm cớ, vừa làm phương tiện để mở rộng lãnh thổ.
Mặt khác, luôn tìm mọi thủ đoạn, dưới nhiều phương thức để xê dịch cột mốc, thay đổi đường biên, lấn chiếm lãnh thổ của Việt Nam trên thực địa cũng như trên bản đồ. So sánh đường biên giới thuộc chủ trương của Trung Quốc với đường biên giới pháp lý (do Pháp-Thanh hoạch định), Trung Quốc vẽ quá vào lãnh thổ nước ta 161 điểm, diện tích 19.649,8 ha = 197km2, trong đó có 73 điểm cũ, 88 điểm mới [32]. Những điểm mà Trung Quốc đã lấn chiếm trên thực địa và mới thể hiện “Lấn” trên bản đồ đều là những điểm có lợi cho kinh tế, hoặc là những điểm cao có lợi về quân sự. Hiện nay, lợi dụng quan hệ bình thường giữa 2 nước và việc “Mở cửa hợp tác” của Nhà nước ta, Trung Quốc đang thực hiện chiến lược biên giới "mềm" với ý đồ hàng hoá của Trung Quốc đến đâu thì biên giới của Trung Quốc đến đó.
Trung Quốc buôn bán tiểu ngạch qua biên giới nhằm 2 mục tiêu: Một mặt biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá của Trung Quốc, đồng thời thu hút tài nguyên, hàng hoá có giá trị của ta, mặt khác tạo nên sự hỗn loạn trong việc qua lại biên giới, làm rối ren trật tự kỷ cương nhằm trà trộn hoạt động, câu móc, nhen nhóm các tổ chức phản cách mạng. Đặc biệt, những năm gần đây xuất hiện việc buôn bán hàng lậu, buôn bán trẻ em, phụ nữ, vũ khí và ma tuý qua biên giới theo chiều hướng gia tăng, gây nên những phức tạp mới. Cùng với những mưu đồ của Trung Quốc và những nhân tố nội tại cho thấy: Biên giới Việt Nam - Trung Quốc đang tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm cho an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên phòng phía Bắc nước ta. Biên giới Việt Nam - Lào dài 2067 km trước đây mới được vạch ra trên bản đồ, chưa có hệ thống mốc giới.
Do địa hình hai bên biên giới là núi cao, rừng rậm, bọn đế quốc và phản động nước ngoài thường sử dụng nơi đây làm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com căn cứ gây phỉ, huấn luyện biệt kích, gián điệp để phá hoại biên giới và cách mạng hai nước. Cuối năm 1975 cách mạng Lào thành công, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ra đời. Ngày 18/7/1977 hiệp ước hoạch định biên giới giữa hai nước Việt - Lào được ký kết. Chính phủ và nhân dân hai nước cùng nhau xây dựng đường biên giới hữu nghị đặc biệt.
Đến năm 1984 đã hoàn thành phân giới cắm mốc trên thực địa. Toàn tuyến được cắm 214 mốc bằng chất liệu tốt, kích thước, quy cách phù hợp, đó là đường biên giới mang tính pháp lý quốc tế. Nhưng do quan hệ dân tộc, thân tộc lâu đời, nhân dân hai bên biên giới qua lại tự do nên việc thực hiện quy chế biên giới còn nhiều khó khăn. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chính sách “Hai mặt” đối với Lào nhằm từng bước chuyển hoá chế độ chính trị, hòng dần dần đưa Lào đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, tách Lào ra khỏi ảnh hưởng của Việt Nam, đồng thời chúng ra sức nuôi dưỡng, giúp đỡ bọn phản động lưu vong, lực lượng phỉ, bọn phản động trong dân tộc ít người, phối hợp hoạt động dọc biên giới, tuyên truyền vận động dân tộc Mông di cư tự do và truyền đạo trái phép, kích động tư tưởng ly khai trong cán bộ dân tộc Lào, thành lập các khu tự trị, xưng vua, gây bạo loạn.
Những vấn đề trên đang ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai nước, trở thành yếu tố tiềm tàng gây mất ổn định, đe dọa an ninh khu vực biên giới của hai nước. Biên giới Việt Nam-Cămpuchia phần đất liền dài 1137 km được hình thành theo Hiệp ước năm 1873 giữa toàn quyền Pháp ở Đông Dương và vua Cămpuchia. Hệ thống cột mốc hầu hết bị hư hỏng, nhiều đoạn biên giới không rõ ràng. Trong lịch sử, từ những năm 1960 - 1975 đây là tuyến biên giới bị tranh chấp liên tục.
Sau 1975 Pôn pốt đòi lãnh thổ ở 39 điểm, lấy cớ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn bộ tuyến biên giới Tây Nam. Tháng 01/1979, nhân dân Cămpuchia được giải phóng khỏi họa diệt chủng, nước Cộng hoà nhân dân Cămpuchia ra đời. Ngày 20/7/1983 hai nước ký hiệp 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới. Ngày 20/12/1985 ký hiệp ước hoạch định biên giới và đã cắm mốc trên thực địa được 72/322 cột mốc.
Gần đây, Chính phủ Cămpuchia đơn phương không thừa nhận các hiệp ước đã ký, họ đòi xét lại đường biên giới, xuyên tạc, vu khống Việt Nam về biên giới lãnh thổ, gây hận thù và chia rẽ 2 dân tộc. Từ cuối năm 1993 đến nay, trên toàn tuyến biên giới, các phe phái Cămpuchia đã gây ra nhiều vụ, nhiều điểm tranh chấp. Nhà nước Cămpuchia, bằng việc thông qua luật “Nhập cư” đã phân biệt đối sử với Việt kiều. Trong khi đó, một số nước lớn tiếp tục tranh giành ảnh hưởng đối với Cămpuchia, nội bộ Cămpuchia còn nhiều diễn b iến phức tạp.
Vùng biên giới là địa bàn mà các phe phái Cămpuchia sử dụng để chống phá lẫn nhau, kết hợp với bọn lưu vong để chống phá cách mạng nước ta.