Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trong nước Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc xây dựng và đánh giá chất lượng chương trình đào tạo. Ở Việt Nam hệ thống và cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đã hình thành khá rõ ràng.
Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục thuộc BGD & ĐT là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị Định 85/2003 ngày 18/7/2003 của Chính Phủ. BGD & ĐT đã ban hành Quyết định số 67/2007/QĐ-BGDĐT về việc “Ban hành qui định về qui trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục của trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.” Quy chế số 40/2007/QĐ – BGD và ĐT ngày 01 tháng 8 năm 2007 đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính qui. Đã có nhiều văn bản qui phạm pháp luật ra đời nhằm triển khai công tác kiểm định chất lượng của các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 29/2008/QĐBGDĐT ngày 05/6/2008 về việc “Ban hành Quy định chu kỳ và quy trình kiểm định chất lượng chương trình giáo dục của các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.Năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 418/2010/QĐ-BGDĐT ngày 20/9/2010 về việc phê duyệt “Đề án Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 – 2020”.
Một trong những mục tiêu quan trọng của đề án này là “Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục để triển khai đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đại học, các trường TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần vào việc đảm bảo và nâng cao chất lượng GDĐH – TCCN”. Theo nội dung của đề án thì các bộ tiêu chuẩn đánh 6 giá chất lượng giáo dục được xây dựng chung cho các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục của từng cấp học. Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2009) đã trình bày ý kiến và nhận xét chung về chương trình khung, CTĐT của các trường đại học tại Việt Nam. Thông qua việc so sánh CTĐT chuyên ngành Tâm lý học tại Việt Nam và tại Mỹ để xem xét mức độ đáp ứng của chương trình tại Việt Nam so với xu hướng chung về yêu cầu đào tạo đại học trên thế giới.[9] Các tác giả Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc, Trần Hữu Hoan và John J.McDonald (2002) đã cung cấp cho tôi cơ sở lý luận khoa học về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
Bên cạnh đó cuốn sách đã khái quát những hoạt động đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học của nhiều nước trên thế giới và đặc biệt là các qui trình thực hiện kiểm định của các nước này. Tác giả Lê Đức Ngọc và Trần Thị (2005) đã trình bày khá rõ về mục tiêu, nội dung của đánh giá chương trình đào tạo và chương trình giảng dạy đại học, bên cạnh đó tác giả còn phát thảo các bước tiến hành đánh giá CTĐT và một số ví dụ để những người mới bắt đầu nghiên cứu về đánh giá CTĐT có thể hình dung những bước tiến cụ thể của việc đánh giá CTĐT.[12] Tác giả Nguyễn Kim Dung (2003) đã giới thiệu những nét rất cơ bản về đánh giá một chương trình học, kiểm định một CTĐT và đề nghị một số việc phải làm để có một đánh giá và kiểm định có kết quả.[3] Tác giả Trần Thị Bích Liễu và TS. Nguyễn Tùng Lâm (2008) đã phân tích để cho thấy rõ vai trò quan trọng của các tổ chức kiểm định chuyên môn (kiểm định nghề nghiệp).[8] Tác giả Trần Thị Bích Liễu (2009) đã phân tích khá sâu sắc các khía cạnh của việc CTĐT đào tạo như : lúc nào thì thực hiện đánh giá chương trình, đánh giá như thế nào, ai đánh giá và tại sao chúng ta phải đánh giá chương trình.Trần Thị Bích Liễu còn đưa ra một số định hướng đánh giá chương trình trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các nước, yêu cầu của khoa học đánh giá và thực tiễn của Việt Nam.[6] 7 Tác giả Lê Văn Hảo (2003) đã phân tích về các cách tiếp cận của việc xây dựng và đánh giá một CTĐT, phân tích một số nhược điểm về xây dựng CTĐT của giáo dục đại học Việt Nam. Tiếp theo đó tác giả đã phân tích vai trò quan trọng của mục tiêu kỹ năng khi xây dựng mục tiêu đào tạo đại học, đồng thời đưa ra một số đề nghị khi xây dựng và thực hiện các CTĐT.[5] Năm 2003 Trường đại học Ngoại thương tổ chức hội thảo khoa học “Đánh giá chương trình đào tạo kinh tế ngoại thương” một số báo cáo của hội nghị tập trung vào khối kiến thức và sự hợp lý và không hợp lý của các môn học trong chương tình đào tạo.
Một số báo cáo khác đề cập đến vấn đề liên quan tới việc tổ chức quản lý và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo. Năm 2005 Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đào tạo đầu tiên tại Việt Nam thí điểm áp dụng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo trong khuôn khổ Chương trình Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á - Châu Âu (AUNP) để tổ chức cho 2 đơn vị trực thuộc viết báo cáo tự đánh giá về 4 chương trình đào tạo: Trường Đại học khoa học Tự nhiên tự đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo Toán học (chương trình chuẩn và chương trình dành cho sinh viên tài năng), Khoa Công nghệ tự đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin (chương trình chuẩn và chương trình chất lượng cao). Đề tài " Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm bộ chỉ số thực hiện cốt lõi trong đánh giá công tác quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng công nghiệp Dệt May Thời trang Hà Nội " của tác giả Nguyễn Văn Chung đã đưa ra được bộ chỉ số đánh giá trong công tác quản lý đào tạo tại Trường cao đẳng công nhiệp dệt may thời trang Hà Nội. Đề tài “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá thực hiện nhiệm vụ của giảng viên đại học - thử nghiệm tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN” của tác giả Phạm Minh Thành đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá nhiệm vụ của giảng viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội.
8 Trong 02 năm 2006 - 2007 các chuyên gia của Trung tâm Đảm bảo Chất lượng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội dự thảo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo trong các trường đại học thành viên và các khoa trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và ngày 30/11/2007 giám đốc đại học quốc gia hà nội đã ký quyết định số 4447/QĐ-KĐCL ban hành nội bộ “Tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo” ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Hiện đã có 4 đơn vị trong Đại học Quốc gia Hà Nội đăng ký đánh giá chương trình trong năm học 2008-2009 là Trường Đại học khoa học tự nhiên (chương trình đào tạo ngành tài năng vật lý), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (chương trình chất lượng ngành ngôn ngữ học), Trường Đại học Ngoại Ngữ (chương trình chất lượng cao ngành tiếng anh hệ sư phạm) và Trường Đại học Kinh Tế (chương trình chất lượng cao ngành kinh tế đối ngoại). Tác giả Phạm Xuân Thanh đã đưa ra hai cách tiếp cận trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học. Trong kỷ yếu Hội thảo “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học” tháng 10/ 2006 của Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu về vấn đề xây dựng các chỉ số thực hiện.
Theo nghiên cứu của tác giả, chất lượng giáo dục đại học đang được quan tâm. Nhiều nhà giáo, nhà quản lý và xã hội đang mong muốn có những công cụ để đo đếm chính xác chất lượng đào tạo, để có thể so sánh giữa các trường đại học. Nhưng để có kết quả là không dễ. Trên thế giới, tuỳ theo từng mô hình giáo dục đại học của từng nước mà áp dụng các ếp cận đánh giá chất lượng giáo dục đại học được sử dụng rộng rãi trên thế giới là phương thức đánh giá chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục khác nhau.
Hai cách tiếp cận đánh giá đồng nghiệp (Peer review) và đánh giá sản phẩm (Outcome assessment). Tác giả Phạm Quốc Khánh - Học Viện ngân hàng đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Ứng dụng bộ chỉ số hoạt động KPI đối với các khoa chuyên ngành phục vụ triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục đại học” (2012). Theo nghiên cứu của tác giả, trong hoạt động của các doanh nghiệp, bộ chỉ số hoạt động KPI là hệ thống các chỉ tiêu (chủ yếu là định lượng) phấn đấu ở từng cấp độ (cấp quản lý, các phòng ban, cá nhân,…) trong một khoảng 9 thời gian nhất định (thường là hằng năm) nhằm đạt được mục tiêu hoạt động chung của các doanh nghiệp. Những đặc điểm chính của KPI giúp bộ chỉ số này trở thành công cụ đảm bảo chất lượng hoạt động liên tục của mỗi tổ chức (nhiều cấp độ), thể hiện: Mục tiêu Các thành tố Bộ chỉ số chung của tổ quyết định đến hoạt động chức thành công của KPI tổ chức KSF Bảng 1.1: Bảng cấp độ chỉ số KPI Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Khánh, ở nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, các khoa chuyên ngành thực hiện những nhiệm vụ quản lý chuyên môn, học thuật chính, xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch và các công tác quản lý của từng ngành đào tạo nên có đặc điểm của một phòng – ban trong tổ chức.
Với những nhiệm vụ nói trên, các khoa chuyên ngành góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệmvụ của từng giai đoạn tại cơ sở giáo dục đại học. Vì vậy, việc áp dụng thành công bộ chỉ số thực hiện KPI ở các khoa chuyên ngành sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong trong quản lý đào tạo tại cơ sở giáo dục theo hướng hiệu quả và chất lượng. Triển khai thực hiện Nghị định thư hợp tác với Australia về việc nghiên cứu áp dụng Lean Six Sigma và KPI vào các doanh nghiệp Việt Nam, ngày 21.