Luận Văn Thạc Sĩ Về Xác Định Ranh Giới Thềm Lục Địa Trong Luật Quốc Tế

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích xác định ranh giới ngoài thềm lục địa theo luật quốc tế hiện đại, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

147
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỀM LỤC ĐỊA

1.1. Khái niệm khoa học địa lý - địa chất và cấu tạo của thềm lục địa

1.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của thềm lục địa

1.3. Tài nguyên sinh vật

1.4. Tài nguyên phi sinh vật và các loại tài nguyên khác

1.5. Tầm quan trọng về chiến lược quân sự của thềm lục địa

1.6. Ý nghĩa về mặt chính trị

1.7. Khái niệm pháp lý về thềm lục địa

1.8. Khái niệm về thềm lục địa trong Công ước Geneva 1958

1.9. Khái niệm thềm lục địa trong Công ước Luật biển 1982

1.10. Khái niệm thềm lục địa trong các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế

1.11. Khái niệm thềm lục địa trong pháp luật Việt Nam

1.12. Quy chế pháp lý của thềm lục địa theo Công ước 1982

2. CHƯƠNG II: XÁC ĐỊNH RANH GIỚI NGOÀI CỦA THỀM LỤC ĐỊA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

2.1. Xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa theo Công ước 1982

2.2. Nguyên tắc chung

2.3. Xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển

2.4. Xác định khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở

2.5. Xác định bờ ngoài của rìa lục địa

2.6. Ủy ban ranh giới ngoài của thềm lục địa (CLCS)

2.7. Chức năng của CLCS

2.8. Thẩm quyền của CLCS

2.9. Quy trình thiết lập ranh giới ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở

2.10. Quy định chung về thủ tục trình báo cáo của quốc gia ven biển

2.11. Giai đoạn 1: Kiểm tra tính khả thi của ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý

2.12. Giai đoạn 2: Lập và gửi bản đệ trình của quốc gia ven biển

2.13. Giai đoạn 3: Gửi bản đệ trình mới hoặc bản đệ trình sửa đổi của quốc gia ven biển

2.14. Phân định ranh giới ngoài thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện

2.15. Các nguyên tắc phân định ranh giới ngoài thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện

2.16. Các điều ước quốc tế song phương về phân định ranh giới ngoài thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện

2.17. Các phán quyết của ICJ về phân định ranh giới ngoài thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện

3. CHƯƠNG III: XÁC ĐỊNH RANH GIỚI NGOÀI VÀ PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM

3.1. Tổng quan về các tranh chấp ở Biển Đông

3.2. Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về thềm lục địa giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông

3.3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hiện đại

3.4. Công ước Luật biển 1982

3.5. Tuyên bố quy tắc ứng xử Biển Đông (DOC)

3.6. Điều ước quốc tế song phương

3.7. Các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế

3.8. Xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam

3.9. Thực tiễn xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực

3.10. Thực tiễn phân định thềm lục địa Việt Nam với các quốc gia láng giềng

3.11. Phương hướng, giải pháp và kiến nghị đối với việc xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam

3.12. Phương hướng, giải pháp, kiến nghị chung

3.13. Giải pháp, kiến nghị tiếp tục xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam tại các khu vực chưa có đường hoạch định ranh giới thềm lục địa

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về xác định ranh giới thềm lục địa trong luật quốc tế

Xác định ranh giới thềm lục địa là một vấn đề quan trọng trong luật quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia ven biển đang ngày càng chú trọng đến việc khai thác tài nguyên biển. Thềm lục địa không chỉ là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ quốc gia mà còn là nguồn tài nguyên phong phú, bao gồm cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật. Việc xác định ranh giới này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi quốc gia mà còn góp phần vào việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

1.1. Khái niệm và vai trò của thềm lục địa trong luật quốc tế

Thềm lục địa được định nghĩa là phần đáy biển và lòng đất kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ quốc gia ven biển ra ngoài biển. Theo Công ước Luật biển 1982, thềm lục địa có thể mở rộng đến 350 hải lý từ đường cơ sở. Vai trò của thềm lục địa rất quan trọng, không chỉ trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia mà còn trong việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

1.2. Tầm quan trọng của việc xác định ranh giới thềm lục địa

Việc xác định ranh giới thềm lục địa giúp các quốc gia ven biển có quyền khai thác tài nguyên biển một cách hợp pháp. Điều này không chỉ đảm bảo lợi ích kinh tế mà còn giúp ngăn chặn các tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia. Hơn nữa, việc xác định rõ ràng ranh giới cũng góp phần vào việc bảo vệ môi trường biển và duy trì sự bền vững của các hệ sinh thái.

II. Các thách thức trong việc xác định ranh giới thềm lục địa

Mặc dù có các quy định rõ ràng trong luật quốc tế, việc xác định ranh giới thềm lục địa vẫn gặp nhiều thách thức. Các quốc gia thường xuyên tranh chấp về ranh giới này, dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ quốc tế. Ngoài ra, việc thiếu thông tin chính xác về địa chất và địa hình cũng là một rào cản lớn trong quá trình xác định ranh giới.

2.1. Tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia ven biển

Tranh chấp lãnh thổ là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong việc xác định ranh giới thềm lục địa. Các quốc gia có thể có những yêu cầu khác nhau về ranh giới, dẫn đến xung đột. Ví dụ, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Biển Đông là một minh chứng rõ ràng cho vấn đề này.

2.2. Thiếu thông tin và công nghệ trong xác định ranh giới

Việc thiếu thông tin chính xác về địa chất và địa hình của thềm lục địa có thể dẫn đến những sai sót trong việc xác định ranh giới. Công nghệ hiện đại như khảo sát địa chất và địa hình dưới nước cần được áp dụng để đảm bảo tính chính xác trong việc xác định ranh giới thềm lục địa.

III. Phương pháp xác định ranh giới thềm lục địa theo luật quốc tế

Theo Công ước Luật biển 1982, có nhiều phương pháp để xác định ranh giới thềm lục địa. Các quốc gia ven biển cần tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Ủy ban Ranh giới ngoài về thềm lục địa (CLCS) để đảm bảo tính hợp pháp trong việc xác định ranh giới.

3.1. Quy trình xác định ranh giới thềm lục địa

Quy trình xác định ranh giới thềm lục địa bao gồm việc thu thập dữ liệu địa chất, lập báo cáo và gửi đến CLCS. Các quốc gia cần phải chứng minh rằng thềm lục địa của họ vượt quá 200 hải lý bằng các bằng chứng khoa học và kỹ thuật.

3.2. Vai trò của Ủy ban Ranh giới ngoài về thềm lục địa CLCS

CLCS có vai trò quan trọng trong việc xem xét và phê duyệt các hồ sơ xác định ranh giới thềm lục địa. Ủy ban này giúp đảm bảo rằng các yêu cầu của các quốc gia ven biển được xem xét một cách công bằng và minh bạch.

IV. Ứng dụng thực tiễn của việc xác định ranh giới thềm lục địa

Việc xác định ranh giới thềm lục địa không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Các quốc gia có thể khai thác tài nguyên biển một cách hợp pháp, đồng thời bảo vệ quyền lợi của mình trong các tranh chấp quốc tế.

4.1. Khai thác tài nguyên biển và lợi ích kinh tế

Việc xác định ranh giới thềm lục địa giúp các quốc gia có quyền khai thác tài nguyên biển như dầu khí, khoáng sản và các nguồn tài nguyên sinh vật. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

4.2. Bảo vệ quyền lợi quốc gia trong các tranh chấp

Khi ranh giới thềm lục địa được xác định rõ ràng, các quốc gia có thể bảo vệ quyền lợi của mình trong các tranh chấp quốc tế. Điều này giúp duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực, đồng thời giảm thiểu nguy cơ xung đột.

V. Kết luận và tương lai của việc xác định ranh giới thềm lục địa

Việc xác định ranh giới thềm lục địa là một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Các quốc gia cần hợp tác và tuân thủ các quy định của luật quốc tế để đảm bảo quyền lợi của mình. Tương lai của việc xác định ranh giới thềm lục địa sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ và sự hợp tác giữa các quốc gia.

5.1. Hướng đi tương lai cho các quốc gia ven biển

Các quốc gia ven biển cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới trong việc xác định ranh giới thềm lục địa. Hợp tác quốc tế cũng là yếu tố quan trọng để giải quyết các tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các quốc gia.

5.2. Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường biển

Bên cạnh việc khai thác tài nguyên, việc bảo vệ môi trường biển cũng cần được chú trọng. Các quốc gia cần có các biện pháp bảo vệ môi trường để đảm bảo sự bền vững của các hệ sinh thái biển trong tương lai.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls xác định ranh giới ngoài thềm lục địa trong luật quốc tế hiện đạị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN VỀ THỀM LỤC ĐỊA 1. Khái niệm khoa học địa lý - địa chất và cấu tạo của thềm lục địa Khái niệm thềm lục địa ngày nay đã được sử dụng khá phổ biến trong khoa học, trong nghiên cứu cũng như trong các hoạt động pháp lý của cả các quốc gia có biển và không có biển trên thế giới. Về mặt địa chất, thềm lục địa hình thành ngay từ quá trình hình thành cấu tạo vỏ trái đất và các đại dương, tuy nhiên thuật ngữ này chỉ ra đời từ cuối thế kỷ XIX khi chính quyền Nga hoàng thông báo với thế giới về “một số đảo mới phát hiện ở Bắc Sibêri là “phần kéo dài về phía Bắc thềm lục địa Sibêri”. Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “thềm lục địa” và khái niệm “phần kéo dài của thềm lục địa” được sử dụng [28].

Ngày nay, khoa học xác định được rằng bên ngoài lãnh thổ của quốc gia ven biển có một dải đất bằng phẳng, với kích thước khác nhau dưới đáy biển, có độ dốc rất thoải (chỉ khoảng 10 phút), dần dần đi xuống thấp cho đến một vùng rất sâu, gọi là “bình nguyên sâu thẳm”. Phần đáy biển trung gian giữa đất liền và bình nguyên sâu thẳm, đó chính là thềm lục địa. Như vậy, thềm lục địa, về mặt địa chất, địa lý là phần lục địa bị ngập dưới biển, tiếp liền với bờ biển, có độ dốc rất thoải, chỉ khoảng mười phút, độ sâu vài 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chục mét tới 350m, trung bình là 200m. Bề rộng của thềm lục địa có thể từ 0 m đến 1.

Tổng diện tích của thềm lục địa trên thế giới ước rộng tới 32 triệu km2, chiếm 9% bề mặt đại dương [31]. Tuy nhiên, phần địa hình này phân bổ rất không đồng đều giữa các nước ven biển do cấu trúc địa chất của các nước không giống nhau. Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể. Có rất nhiều khu vực không có thềm lục địa, đặc biệt là ở các khu vực mà các gờ của vỏ đại dương nằm gần vỏ lục địa trong các khu vực sút giảm ven bờ, chẳng hạn như các vùng bờ biển của Chile hay bờ biển phía tây của đảo Sumatra.

Thềm lục địa lớn nhất - thềm lục địa ở Bắc Băng Dương - kéo dài tới 1. Theo độ sâu, Biển Đông hình thành hai khu vực: khu vực biển sâu (hay thung lũng biển) nằm ở phần đông bắc, diện tích 1.745 triệu km2, chiếm 49,8% toàn vùng biển; khu vực biển nông là thềm lục địa rộng lớn, chiếm một diện tích 1.755 triệu km2 hay 50,2% diện tích toàn vùng biển. Khư vực biển sâu có độ sâu tối đa đến 5.016m, tách biệt với Palawan và một bình nguyên sâu thẳm có trung tâm tại độ sâu khoảng 4. Thềm lục địa của Biển Đông bao gồm rìa lục địa kéo dài từ eo biển Đài Loan qua vịnh Bắc Bộ, thềm Sunda rộng lớn (nối liền các đảo Borneo, Sumatra và Java với châu Á đại lục) nằm ở phía tây nam Biển Đông, trong đó có vịnh Thái Lan, vùng biển Nam Bộ và vùng thềm hẹp ở phía tây các đảo, lần lượt cách bờ Đài Loan 11 km, Philippin 18 km, Palawan 55km và Borneo 93 km [38].

Thoạt đầu thềm không rộng lắm, men theo bờ Nam Trung Quốc, khi đến gần đảo Hải Nam thì mở rộng, chiếm toàn bộ vịnh Bắc Bộ và vùng ngoài khơi cửa vịnh phía nam. Trước bờ biển miền Trung, thềm tiến sát vào bờ, chỉ còn cách Hội An chừng 80 km. Càng đi xuống, thềm càng thắt lại, mép ngoài của nó đã lấn trước mũi Nạy 20 km. Sau đó, thềm lục địa lại mở rộng, ôm lấy toàn bộ vịnh Thái Lan, biển Nam Bộ và biển Sunda.

Phần kề với thềm lục địa phía tây được cấu tạo bởi các bậc thềm của dốc lục địa và đặc trưng bởi sự có mặt của các ám tiêu san hô và các thung lũng. Những ám tiêu san hô nổi tiếng nằm ở trong các bậc thềm Pratas, Helen và Hoàng Sa. Phần phía đông Biển Đông có thềm lục địa hẹp rồi đến dốc lục địa và các hố sâu. Vùng đáy biển phía tây bắc đảo Borneo như một cao nguyên gồ ghề, nhiều đảo 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com san hô nhọn hoặc bị bạt đầu, nằm ở độ sâu 1.500 - 2000m, rất nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại.

Vùng trung tâm Biển Đông là các bình nguyên sâu thẳm, bề mặt đáy tương đối bằng phẳng, trừ ở giữa bình nguyên xuất hiện một số đảo ngầm, có thể xưa kia là đỉnh núi lửa. Những bình nguyên này dốc thoai thoải, nằm ở độ sâu từ 3.200m, kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam. Những vùng sâu của Biển Đông được bao phủ bởi các trầm tích hạt mịn, thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau. Điều đáng chú ý là người ta đã phát hiện được ở đây nhiều chất đáy chỉ đặc trưng cho các đại dương như các loại bùn xám [19].

Trên thế giới, có nước hầu như không có thềm lục địa như Colombia, hoặc có thềm lục địa hẹp như các nước Ảrập, Châu Phi. Có nước có thềm lục địa rộng lớn như Mỹ, Nga, Canada, Ireland, Argentina, Australia, Srilanka. Điều này có ảnh hưởng quan trọng đến địa hình đáy biển, cũng như các yếu tố kinh tế, xã hội khác khi các quốc gia này nhận thức được vai trò quan trọng của thềm lục địa đối với sự phát triển của quốc gia mình. Sau nhiều nghiên cứu khoa học, cuối cùng, đến đầu thế kỷ XX, các nhà địa lý học đã đi đến kết luận cuối cùng và có sự mô tả khá chi tiết về thềm lục địa như sau: Thềm lục địa là một phần của đáy biển chạy từ bờ ra phía ngoài khơi theo một độ dốc thoai thoải, và đến một khoảng cách nhất định kể từ bờ thì thụt hẳn xuống tới đáy đại dương.

Phần đáy biển này được coi là phần kéo dài tự nhiên của lục địa. Dựa vào cơ cấu địa chất và địa mạo đáy biển và lòng đất đáy biển, các nhà khoa học tự nhiên đã chia vùng này ra thành 3 phần: thềm, dốc và bờ. Thềm Theo khoa học địa chất, thềm là phần đáy biển ven bờ bao quanh lục địa, tiếp giáp với bờ biển, được bắt đầu từ bờ biển và kết thúc ở đường địa mạo. Đường địa mạo nằm ở những vùng nước có độ sâu rất khác nhau từ 130 - 200m, cá biệt có nơi ở độ sâu từ 50 - 1.

Thềm là vùng đáy biển bằng phẳng, thoai thoải dốc ra phía ngoài khơi. Độ dốc của thềm từ 1,5 đến 20 trung bình là 0,070. Chiều rộng của thềm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bằng nhau, có chỗ rộng và chỗ hẹp, thay đổi từ 5 - 10 km đến 1. Thềm chiếm khoảng 8% diện tích đáy biển.

Dốc Dốc lục địa bắt đầu từ đường địa mạo, là một vùng rất lồi lõm, có độ dài tương đối hẹp, khoảng từ 10 - 100 km. Cũng như thềm lục địa, dốc lục địa thường nằm ở ngoài khơi của hầu hết các lục địa, đặc biệt và rõ rệt nhất là ở ngoài khơi các vùng núi sát bờ biển. Dốc lục địa chấm dứt khi độ dốc bắt đầu thoai thoải trở lại: đó là nơi bắt đầu của bờ. Bờ Bờ là phần địa hình cuối cùng của thềm lục địa, bắt đầu từ chân dốc lục địa và kết thúc ở ranh giới bắt đầu của đáy biển sâu.

Bờ có hình dạng địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc trung bình khoảng 1/300 và có chiều dài lớn gấp nhiều lần dốc lục địa (khoảng từ 100 - 1000 km. Ngoài bờ là nền đại dương, nơi có mực nước sâu từ 2000 đến 5000 km. Trong lịch sử phát triển, đã có rất nhiều các tranh luận, quan điểm khác nhau về khái niệm thềm lục địa và giải thích sự hình thành thềm lục địa. Tuy nhiên tất cả các quan điểm này đều ghi nhận và đi đến cách nhìn nhận chung về thềm lục địa là: đây là một phần của đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa.

Ranh giới phía trong là bờ biển và ranh giới phía ngoài là bờ ngoài của rìa lục địa. Học thuyết về sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiến và các quy chế pháp lý về thềm lục địa trên thế giới. Điều này tác động không nhỏ đến luật pháp quốc tế về biển, lợi ích của các quốc gia có biển và không có biển cũng như mối quan hệ của các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền kề trên thế giới do các giá trị về mặt kinh tế mà thềm lục địa mang lại. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Cấu tạo địa chất thềm lục địa 1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của thềm lục địa Chiếm diện tích hơn 71% bề mặt hành tinh, đại dương được coi là “ranh giới cuối cùng” cùa loài người; tài nguyên biển và đại dương được coi như “nơi nương tựa cuối cùng” để phục vụ nhu cầu thức ăn, nước uống, nguyên liệu và năng lượng cho nhân loại. Đại dương đã và đang trở thành “lục địa thứ sáu” và cùng với sự thách thức từ vũ trụ, sự thách thức khám phá và chinh phục đại dương trở thành sự thách thức của thế kỉ XXI - thế kỉ được thế giới xem là “thế kỷ của đại dương”. Với những đợt sóng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng lan rộng, với sự phát triển kỳ diệu của khoa học kỹ thuật, các hoạt động khai thác trên biển, đáy biển và đáy đại dương đã được triển khai một cách mạnh mẽ, toàn diện, rộng rãi, và với quy mô rộng lớn.

Những lợi ích khổng lồ từ các hoạt động đầy ý nghĩa này đã thật sự soi sáng cho cơ hội thịnh vượng và phát triển cho các quốc gia có biển. Tiến ra biển, làm chủ biển đã trở thành xu thế, là hành động tất yếu của nhân loại trong thời đại ngày nay nhằm đối phó với những thách thức mang tính toàn cầu: cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, khủng hoảng môi trường nghiêm trọng và gánh nặng lương thực đang trĩu nặng trên bờ vai của nhân loại trước sự gia tăng dân 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số chóng mặt…Trong quá khứ, biển đã giúp xây dựng và phát triển những nền văn minh huy hoàng. Nhờ sớm tiến ra biển, những nền văn minh Hy Lạp, La Mã, hay Châu Âu đã có thể mở rộng ảnh hưởng của mình, tác động mạnh mẽ tới tinh thần, vật chất và văn hóa của một phần rộng lớn trên trái đất. Ngày nay, tất cả các quốc gia là cưởng quốc trên thế giới đều là quốc gia ven biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ