Chương I TỔNG QUAN VỀ THỀM LỤC ĐỊA 1. Khái niệm khoa học địa lý - địa chất và cấu tạo của thềm lục địa Khái niệm thềm lục địa ngày nay đã được sử dụng khá phổ biến trong khoa học, trong nghiên cứu cũng như trong các hoạt động pháp lý của cả các quốc gia có biển và không có biển trên thế giới. Về mặt địa chất, thềm lục địa hình thành ngay từ quá trình hình thành cấu tạo vỏ trái đất và các đại dương, tuy nhiên thuật ngữ này chỉ ra đời từ cuối thế kỷ XIX khi chính quyền Nga hoàng thông báo với thế giới về “một số đảo mới phát hiện ở Bắc Sibêri là “phần kéo dài về phía Bắc thềm lục địa Sibêri”. Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “thềm lục địa” và khái niệm “phần kéo dài của thềm lục địa” được sử dụng [28].
Ngày nay, khoa học xác định được rằng bên ngoài lãnh thổ của quốc gia ven biển có một dải đất bằng phẳng, với kích thước khác nhau dưới đáy biển, có độ dốc rất thoải (chỉ khoảng 10 phút), dần dần đi xuống thấp cho đến một vùng rất sâu, gọi là “bình nguyên sâu thẳm”. Phần đáy biển trung gian giữa đất liền và bình nguyên sâu thẳm, đó chính là thềm lục địa. Như vậy, thềm lục địa, về mặt địa chất, địa lý là phần lục địa bị ngập dưới biển, tiếp liền với bờ biển, có độ dốc rất thoải, chỉ khoảng mười phút, độ sâu vài 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chục mét tới 350m, trung bình là 200m. Bề rộng của thềm lục địa có thể từ 0 m đến 1.
Tổng diện tích của thềm lục địa trên thế giới ước rộng tới 32 triệu km2, chiếm 9% bề mặt đại dương [31]. Tuy nhiên, phần địa hình này phân bổ rất không đồng đều giữa các nước ven biển do cấu trúc địa chất của các nước không giống nhau. Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể. Có rất nhiều khu vực không có thềm lục địa, đặc biệt là ở các khu vực mà các gờ của vỏ đại dương nằm gần vỏ lục địa trong các khu vực sút giảm ven bờ, chẳng hạn như các vùng bờ biển của Chile hay bờ biển phía tây của đảo Sumatra.
Thềm lục địa lớn nhất - thềm lục địa ở Bắc Băng Dương - kéo dài tới 1. Theo độ sâu, Biển Đông hình thành hai khu vực: khu vực biển sâu (hay thung lũng biển) nằm ở phần đông bắc, diện tích 1.745 triệu km2, chiếm 49,8% toàn vùng biển; khu vực biển nông là thềm lục địa rộng lớn, chiếm một diện tích 1.755 triệu km2 hay 50,2% diện tích toàn vùng biển. Khư vực biển sâu có độ sâu tối đa đến 5.016m, tách biệt với Palawan và một bình nguyên sâu thẳm có trung tâm tại độ sâu khoảng 4. Thềm lục địa của Biển Đông bao gồm rìa lục địa kéo dài từ eo biển Đài Loan qua vịnh Bắc Bộ, thềm Sunda rộng lớn (nối liền các đảo Borneo, Sumatra và Java với châu Á đại lục) nằm ở phía tây nam Biển Đông, trong đó có vịnh Thái Lan, vùng biển Nam Bộ và vùng thềm hẹp ở phía tây các đảo, lần lượt cách bờ Đài Loan 11 km, Philippin 18 km, Palawan 55km và Borneo 93 km [38].
Thoạt đầu thềm không rộng lắm, men theo bờ Nam Trung Quốc, khi đến gần đảo Hải Nam thì mở rộng, chiếm toàn bộ vịnh Bắc Bộ và vùng ngoài khơi cửa vịnh phía nam. Trước bờ biển miền Trung, thềm tiến sát vào bờ, chỉ còn cách Hội An chừng 80 km. Càng đi xuống, thềm càng thắt lại, mép ngoài của nó đã lấn trước mũi Nạy 20 km. Sau đó, thềm lục địa lại mở rộng, ôm lấy toàn bộ vịnh Thái Lan, biển Nam Bộ và biển Sunda.
Phần kề với thềm lục địa phía tây được cấu tạo bởi các bậc thềm của dốc lục địa và đặc trưng bởi sự có mặt của các ám tiêu san hô và các thung lũng. Những ám tiêu san hô nổi tiếng nằm ở trong các bậc thềm Pratas, Helen và Hoàng Sa. Phần phía đông Biển Đông có thềm lục địa hẹp rồi đến dốc lục địa và các hố sâu. Vùng đáy biển phía tây bắc đảo Borneo như một cao nguyên gồ ghề, nhiều đảo 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com san hô nhọn hoặc bị bạt đầu, nằm ở độ sâu 1.500 - 2000m, rất nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại.
Vùng trung tâm Biển Đông là các bình nguyên sâu thẳm, bề mặt đáy tương đối bằng phẳng, trừ ở giữa bình nguyên xuất hiện một số đảo ngầm, có thể xưa kia là đỉnh núi lửa. Những bình nguyên này dốc thoai thoải, nằm ở độ sâu từ 3.200m, kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam. Những vùng sâu của Biển Đông được bao phủ bởi các trầm tích hạt mịn, thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau. Điều đáng chú ý là người ta đã phát hiện được ở đây nhiều chất đáy chỉ đặc trưng cho các đại dương như các loại bùn xám [19].
Trên thế giới, có nước hầu như không có thềm lục địa như Colombia, hoặc có thềm lục địa hẹp như các nước Ảrập, Châu Phi. Có nước có thềm lục địa rộng lớn như Mỹ, Nga, Canada, Ireland, Argentina, Australia, Srilanka. Điều này có ảnh hưởng quan trọng đến địa hình đáy biển, cũng như các yếu tố kinh tế, xã hội khác khi các quốc gia này nhận thức được vai trò quan trọng của thềm lục địa đối với sự phát triển của quốc gia mình. Sau nhiều nghiên cứu khoa học, cuối cùng, đến đầu thế kỷ XX, các nhà địa lý học đã đi đến kết luận cuối cùng và có sự mô tả khá chi tiết về thềm lục địa như sau: Thềm lục địa là một phần của đáy biển chạy từ bờ ra phía ngoài khơi theo một độ dốc thoai thoải, và đến một khoảng cách nhất định kể từ bờ thì thụt hẳn xuống tới đáy đại dương.
Phần đáy biển này được coi là phần kéo dài tự nhiên của lục địa. Dựa vào cơ cấu địa chất và địa mạo đáy biển và lòng đất đáy biển, các nhà khoa học tự nhiên đã chia vùng này ra thành 3 phần: thềm, dốc và bờ. Thềm Theo khoa học địa chất, thềm là phần đáy biển ven bờ bao quanh lục địa, tiếp giáp với bờ biển, được bắt đầu từ bờ biển và kết thúc ở đường địa mạo. Đường địa mạo nằm ở những vùng nước có độ sâu rất khác nhau từ 130 - 200m, cá biệt có nơi ở độ sâu từ 50 - 1.
Thềm là vùng đáy biển bằng phẳng, thoai thoải dốc ra phía ngoài khơi. Độ dốc của thềm từ 1,5 đến 20 trung bình là 0,070. Chiều rộng của thềm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bằng nhau, có chỗ rộng và chỗ hẹp, thay đổi từ 5 - 10 km đến 1. Thềm chiếm khoảng 8% diện tích đáy biển.
Dốc Dốc lục địa bắt đầu từ đường địa mạo, là một vùng rất lồi lõm, có độ dài tương đối hẹp, khoảng từ 10 - 100 km. Cũng như thềm lục địa, dốc lục địa thường nằm ở ngoài khơi của hầu hết các lục địa, đặc biệt và rõ rệt nhất là ở ngoài khơi các vùng núi sát bờ biển. Dốc lục địa chấm dứt khi độ dốc bắt đầu thoai thoải trở lại: đó là nơi bắt đầu của bờ. Bờ Bờ là phần địa hình cuối cùng của thềm lục địa, bắt đầu từ chân dốc lục địa và kết thúc ở ranh giới bắt đầu của đáy biển sâu.
Bờ có hình dạng địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc trung bình khoảng 1/300 và có chiều dài lớn gấp nhiều lần dốc lục địa (khoảng từ 100 - 1000 km. Ngoài bờ là nền đại dương, nơi có mực nước sâu từ 2000 đến 5000 km. Trong lịch sử phát triển, đã có rất nhiều các tranh luận, quan điểm khác nhau về khái niệm thềm lục địa và giải thích sự hình thành thềm lục địa. Tuy nhiên tất cả các quan điểm này đều ghi nhận và đi đến cách nhìn nhận chung về thềm lục địa là: đây là một phần của đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa.
Ranh giới phía trong là bờ biển và ranh giới phía ngoài là bờ ngoài của rìa lục địa. Học thuyết về sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiến và các quy chế pháp lý về thềm lục địa trên thế giới. Điều này tác động không nhỏ đến luật pháp quốc tế về biển, lợi ích của các quốc gia có biển và không có biển cũng như mối quan hệ của các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền kề trên thế giới do các giá trị về mặt kinh tế mà thềm lục địa mang lại. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cấu tạo địa chất thềm lục địa 1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của thềm lục địa Chiếm diện tích hơn 71% bề mặt hành tinh, đại dương được coi là “ranh giới cuối cùng” cùa loài người; tài nguyên biển và đại dương được coi như “nơi nương tựa cuối cùng” để phục vụ nhu cầu thức ăn, nước uống, nguyên liệu và năng lượng cho nhân loại. Đại dương đã và đang trở thành “lục địa thứ sáu” và cùng với sự thách thức từ vũ trụ, sự thách thức khám phá và chinh phục đại dương trở thành sự thách thức của thế kỉ XXI - thế kỉ được thế giới xem là “thế kỷ của đại dương”. Với những đợt sóng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng lan rộng, với sự phát triển kỳ diệu của khoa học kỹ thuật, các hoạt động khai thác trên biển, đáy biển và đáy đại dương đã được triển khai một cách mạnh mẽ, toàn diện, rộng rãi, và với quy mô rộng lớn.
Những lợi ích khổng lồ từ các hoạt động đầy ý nghĩa này đã thật sự soi sáng cho cơ hội thịnh vượng và phát triển cho các quốc gia có biển. Tiến ra biển, làm chủ biển đã trở thành xu thế, là hành động tất yếu của nhân loại trong thời đại ngày nay nhằm đối phó với những thách thức mang tính toàn cầu: cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, khủng hoảng môi trường nghiêm trọng và gánh nặng lương thực đang trĩu nặng trên bờ vai của nhân loại trước sự gia tăng dân 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số chóng mặt…Trong quá khứ, biển đã giúp xây dựng và phát triển những nền văn minh huy hoàng. Nhờ sớm tiến ra biển, những nền văn minh Hy Lạp, La Mã, hay Châu Âu đã có thể mở rộng ảnh hưởng của mình, tác động mạnh mẽ tới tinh thần, vật chất và văn hóa của một phần rộng lớn trên trái đất. Ngày nay, tất cả các quốc gia là cưởng quốc trên thế giới đều là quốc gia ven biển.