Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giá đất ở, định giá đất ở, thu hồi đất, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Pháp luật và áp dụng pháp luật về định giá đất ở để bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật việt nam hiện nay. Chương 3: Nâng cao hiệu quả về xác định giá đất ở để bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật việt nam hiện nay. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ ĐẤT Ở, ĐỊNH GIÁ ĐẤT Ở VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT Ở ĐỂ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1.
Những vấn đề lý luận về giá đất ở, định giá đất ở 1. Khái niệm, đặc điểm giá đất ở Trong nền kinh tế thị trường, giá đất ở được hiểu là biểu hiện mặt giá trị của quyền sử dụng đất ở. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại điện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng và quyền sử dụng đất được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Tại khoản 19, 20 điều 3 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 (sau đây viết tắt là: Luật Đất đai năm 2013) quy định: “Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất”, “Giá trị quyền sử đụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng xác định”.
Từ đó, có thể hiểu: Giá đất ở là giá trị quyền sử dụng đất ở thể hiện bằng tiền của quyền sử dụng đất ở đối với một diện tích đất xác định trong thời gian sử dụng xác định, mà ở đây thời gian sử dụng xác định với đất ở là lâu dài. Giá đất ở là sự cấu thành các yếu tố quyền năng, xã hội, tư nhiên… mà nó có hoặc có được ảnh hưởng, để tạo thành giá trị bằng hình thái tiền tệ khi đem ra trao đổi thành công. Đất đai, cụ thể là đất ở, được coi là hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt. Mọi sự trao đổi phải theo trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định.
Định giá đất ở đúng, hợp lý để tính thuế sử dụng, thu lệ phí khi chuyển nhượng, thu tiền sử dụng đất… sẽ góp phần điều chỉnh các quan hệ cung cầu về đất đai, tạo điều kiện cho nên kinh tế thị trường phát triển, đồng thời khắc phục được nhược điểm của quan hệ giao đất, thu hồi đất trước đây và làm cho chế độ sở hữu toàn được được củng cố. Giá đất ở theo khung giá của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiển để sở hữu toàn dân về đất đai được vận động theo cơ chế thị trường. Khung giá đất ban hành theo phân loại khu vực, vị trí. Khung giá đất được chính phủ ban hành định kỳ 7 05 năm.
Dựa theo khung giá đất được chính phủ ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng bảng giá đất địa phương và định kỳ 05 năm một lần, được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ công bố hệ số điều chỉnh bảng giá đất 05 năm vào ngày 01 tháng 01 hàng năm. Các giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất lấy khung giá làm cơ sở tham khảo để định giá cho thửa đất. Điều này đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất ở tham gia vào thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung có một kênh thông tin tham khảo, làm căn cứ xác định giá đất ở để giao dịch trên thị trường.
Tuy nhiên, khung giá đất và bảng giá đất được ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chỉ phán ánh một phần nào giá đất ở, chưa phản ánh chính xác giá trị thị trường của thửa đất, cụ thể là giá ở một số khu vực còn khá thấp so với giá trị thị trường thực tế. Đặc biệt, trong công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất ở đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là chính sách, biện pháp quyết định tiến độ thu hồi đất ở. Từ trước đến nay, những vướng mắc nhiều nhất liên quan đến đất đai là giá bồi thường đất ở khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, an ninh quốc phòng, mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên quy hoạch theo hướng quy hoạch phát triển lâu dài, đồng bộ, nhất quán nên việc Nhà nước thu hồi đất ở là việc tất yếu. Khi Nhà nước thu hồi đất để đảm bảo lợi ích cho người đang sử dụng đất ở, Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất ở. Tuy nhiên, hiện nay, giá đất ở bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thường được áp dụng theo đơn giá theo khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và giá thấp hơn giá thị trường. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người bị thu hồi đất ở không đồng tình với phương án bồi thường.
Hệ quả người sử dụng đất ở khiếu kiện kéo dài, khâu thu hồi đất bị ách tắc, không bàn giao được mặt bằng. Đứng trước thực trạng trên Nhà nước phải có biện pháp xác định giá đất ở hợp lý hơn, gần sát với giá đất ở trên thị trường. * Đặc điểm của giá đất ở Đất ở cũng là một loại đất đai. Giá đất ở cũng mang những đặc điểm của giá đất nhưng thể hiện tính riêng biệt của đất ở.
8 - Không giống nhau về phương thức biểu thị: Giá của đất ở phản ánh tác dụng của đất ở trong hoạt động kinh tế, quyền lợi về đất ở đến đâu thì khả năng thu lợi đến đó, cũng như sẽ có giá tương ứng với từng loại quyền lợi. Với đất ở được biểu hiện qua một số quyền như: giá quyền sở hữu, giá quyền sử dụng, giá quyền cho thuê, giá quyền thế chấp… Như vậy, giá đất ở được biểu thị ở nhiều phương thức khác nhau, ngoài biểu thị giá quyền sở hữu, giá quyền sử dụng còn có thể biểu thị bằng quyền cho thuê, quyền thế chấp. Giá đất ở của một thửa đất được biểu thị với mỗi mục đích khác nhau là khác nhau. - Không giống nhau về thời gian hình thành: Do đất ở có tính khác biệt cá thể lớn, cũng như nguồn gốc hình thành nên đất ở, có thể là đất ở do cha ông để lại thừa kế, có thể là đất ở Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất…, lại thiếu một thị trường hoàn chỉnh.
Giá đất ở mang yếu tố lịch sử, được hình thành dưới sự ảnh hưởng lâu dài từ quá khứ đến tương lai, do vậy rất khó so sánh với nhau. Do đó công tác xác định giá đất ở để bồi thường cần căn cứ vào các đặc điểm của đất ở - bản thân thửa đất bị thu hồi và tình hình thị trường đất ở tại khu vực thu hồi đất, từ đó tiến hành phân tích cụ thể các yếu tố để đưa ra giá đất ở cụ thể phù hợp với từng thời điểm nhất định. - Giá đất ở không phải biểu hiện tiền tệ của giá trị đất ở: Đất đai nói chung và đất ở nói riêng là một loại hàng hóa đặc biệt, không phải là sản phẩm do lao động của con người nên không có giá thành sản xuất. Giá đất ở cao hay thấp phụ thuộc vào nhu cầu về đất ở.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và dân số tăng lên không ngừng mà quỹ đất sử dụng làm đất ở có hạn, từ sự chênh lệch cán cân cung – cầu mà làm tăng giá đất ở cả về biên độ lẫn tốc độ. - Giá đất ở có tính khu vực và cá biệt: Đất ở là một loại bất động sản. Cùng với sự hoàn thiện về cơ sở hạ tầng – kỹ thuật và các đặc điểm riêng biệt ở mỗi khu vực khác nhau là khác nhau, vì vậy giá đất ở thuộc khác khu vực nhau là khác nhau 1. Phân loại đất ở Để xác định chính xác, hợp lý giá đất ở cần nhận biết, xác định đúng loại đất ở.
Theo mục a, khoản 2, điều 13 Luật Đất đai năm 2013, Đất ở thuộc nhóm đất phi nông nghiệp gồm: đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị: 9 Đất ở nông thôn: “Đất ở do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng tại nông thôn gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” (khoản 1 điều 143 Luật Đất đai năm 2013). Đất ở tại đô thị: “Đất ở tại đô thị bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” (khoản 1 điều 144 Luật Đất đai năm 2013). Ngoài hai loại đất ở nêu trên, Luật Đất đai năm 2013 có một điểm mới, cũng là sự ghi nhận, thay đổi của Nhà nước, Chính phủ cho phù hợp với xu thế phát triển và bắt kịp với các nước phát triển. Cụ thể, tại Điều 49, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định về chế độ sử dụng đất xây dựng nhà chung cư và Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 về sử đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai thì đất xây dựng nhà chung cư, nhà chung cư có mục đích hỗn hợp để ở và làm văn phòng, cơ sở thương mại, dịch vụ (gọi chung là nhà chung cư) được xác định là đất ở.
Nhưng khác với đất ở đô thị và đất ở nông thôn, đất xây dựng chung cư thuộc quyền sử dụng chung của các chủ sở hữu căn hộ nhà chung cư, văn phòng làm việc, cơ sở thương mại, dịch vụ trong nhà chung cư, còn với đất ở đô thị, đất ở nông thôn thuộc quyền sử dụng riêng của cá nhân hoặc hộ gia đình.