Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường THCS. 4 Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THCS huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THCS huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề các c ng tr nh nghiên cứu về qu n lý hội h a c ng tác giáo d c GD luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì giáo dục quyết định tương lai của mỗi người và của xã hội. GD còn là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, ngược lại giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người.
Các nghiên cứu ở nước ngoài GD luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì giáo dục quyết định tương lai của mỗi người và của xã hội. GD còn là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, ngược lại giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người.
Ở nhiều nước trên thế giới, thực hiện CTXHHGD bằng cách huy động các nguồn lực đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để nhà nước quản lý, đầu tư cho GD. Vì vậy, họ thực hiện thống nhất trong hệ thống giáo dục, nhà nước chi đầy đủ, thường xuyên cho các nhà trường, HS không phải đóng học phí. Kinh phí nhà trường gồm tiền lương giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động đều được nhà nước chăm lo, xã hội chăm sóc bằng nguồn tài chính do xã hội đóng góp. Một số nước tư bản Châu Âu như Anh và Đức trước đây, cũng như một số nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô (cũ), Trung Quốc trước năm 1998, Việt Nam trong thập kỷ 60-90, thực hiện việc bao cấp cho giáo dục.
Tuy nhiên, từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục cùng với chi phí tăng cao dành cho việc đào tạo và nghiên cứu đã dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi đó là chính sách bao cấp ấy phải thay đổi cho phù hợp với thực tiễn. “Con người là trung tâm của sự phát triển”, đây là quan điểm hiện nay của 6 nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc đã xác định “Đưa giáo dục vào vị trí ưu tiên cho sự phát triển”. Ấn Độ cho rằng “Huy động xã hội tham gia công tác giáo dục gắn với phát triển nông thôn, huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính phủ”. Ngay từ năm 1947, Nhật Bản đã đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc gia.
Tuy cách làm và biện pháp tổ chức các hoạt động CTXHHGD ở mỗi nước có khác nhau, nhưng nhìn chung về bản chất, ở mỗi quốc gia đều thực hiện chính sách “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào sự phát triển của giáo dục” tạo nhiều cơ hội để tất cả mọi người ai cũng được hưởng thụ các thành quả của giáo dục và tạo điều kiện cho người học có được những thành quả tốt nhất, hiệu quả cao nhất. Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay GD luôn được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia. Việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới. Các nghiên cứu ở Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em, những chủ nhân tương lai của đất nước; trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bác Hồ đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công lao học tập của các cháu”; “Chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm, là tình thương và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng xã hội”.
Ở Việt Nam, XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó bắt nguồn từ lâu đời và là bước phát triển của một chủ trương phát triển giáo dục được thực hiện từ nhiều năm qua. Với tư tưởng “Lấy dân làm gốc”, “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đã được Đảng vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà. Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân mở rất ít trường học, chủ yếu trường học được mở ra cho con em quý tộc phong kiến và con nhà giàu. Con em người lao động không được chính quyền quan tâm, người dân muốn được học phải tự lo dưới hình thức học ở trường tư do các thầy đồ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù chữ.
Cách mạng tháng Tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng thực hiện các quan điểm “giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Ngay từ những ngày đầu đất nước độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống nạn thất học. Trong lời kêu gọi, Người đã nêu rõ phương châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ,. những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết 7 chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm chưa biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học tư gia dạy cho những người chưa biết chữ”.
[19] Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đã trở thành một XHHT. Tiêu biểu, sôi động nhất đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ hậu phương cho đến tiền tuyến,. người người đi học, nhà nhà đi học; trường lớp chỉ là những nhà đơn sơ. Tư tưởng giáo dục “ai cũng được học hành” của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống.
Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt được những thành quả nhất định. Song do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục chưa khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển giáo dục. Thay vì thực hiện sự “quản lý giáo dục của nhà nước”, chúng ta đã “nhà nước hoá giáo dục” làm cho giáo dục rơi vào thế bị động, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục. Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục xuống cấp, lạc hậu; sự phát triển của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chưa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại.
Sự định hướng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển GD. Đòi hỏi sự nghiệp GD&ĐT cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị trí, vai trò trong công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, việc đa dạng hoá phát triển giáo dục lại một lần nữa ngày càng phát huy ưu thế. Việc “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc phòng toàn dân dưới sự quản lý của nhà nước” đã trở nên vô cùng cấp thiết.
Đảng ta đã khẳng định “xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách XH. Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII (1996) chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”. [13] Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục”. [2] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục.
Huy động nguồn lực, vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội”. [3] Để thực hiện chủ trương XHH, ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết 8 số 05/2005/NQ-CP “về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao”. [9] Bộ GD&ĐT ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện XHHGD; xây dựng đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010”.
[6] Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục; các cơ quan Liên Bộ, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã họp ban và nghiên cứu về vấn đề XHHGD.