CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI VÀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN 1. Khái niệm và chức năng của biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án dân sự 1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời Xuất phát từ nguyên tắc về công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền dân sự, 6 BPKCTT trong tố tụng dân sự được quy định nằm bảo vệ quyền của đương sự liên quan đến sức khỏe, tính mạng và tài sản. Quy định về BPKCTT trong chương VIII của BLTTDS 2015 càng thể hiện rõ tính thống nhất của pháp luật, bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan thực hiện chức năng tư pháp là Tòa án.
Như vậy, BPKCTT là biện pháp Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.7 Thông qua khái niệm cũng như tên gọi, nhận thấy BPKCTT có 2 đặc tính cơ bản đó là tính khẩn cấp và tính tạm thời: Tính khẩn cấp được thể hiện qua thời điểm mà đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT. Quyền này không những không bị giới hạn bởi thời gian thụ lý vụ án hoặc các thủ tục tố tụng dân sự khác mà trái lại, các đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT cùng với việc nộp đơn khởi kiện, bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng hoặc yêu cầu áp dụng ngay tại phiên tòa. 8 Đặc tính này góp phần ngăn chặn kịp thời các thiệt hại có thể xảy ra, nhanh chóng bảo vệ chứng cứ - yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự khách quan của vụ án. Tính tạm thời được thể hiện thông qua giá trị pháp trị pháp lý của biện pháp 6 BLDS 2015, Điều 2, khoản 1.
7 Trường Đại học luật Hà Nội. Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam. Hà Nội: Công an nhân dân. 10 này so với việc giải quyết vụ án.
BPKCTT mang tính bổ trợ và không bắt buộc, bởi chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi có tình huống xảy ra mà theo Thẩm phán nhận định tình huống này cần áp dụng BPKCTT.9 Do đó, BPKCTT không có giá trị giải quyết toàn bộ nội dung vụ án,10 không phải là quyết định cuối cùng và không có giá trị pháp lý như bản án mà chỉ mang tính tạm thời giải quyết vấn đề liên quan đến vụ việc. Ngoài ra, tính tạm thời còn thể hiện thông qua quyền yêu cầu thay đổi, hủy bỏ BPKCTT khi hoàn cảnh thay đổi khiến BPKCTT đang áp dụng không còn phù hợp hoặc căn cứ áp dụng BPKCTT không còn nữa.11 Tương ứng với từng hoàn cảnh và nhu cầu khác nhau, mà đương sự có thể yêu cầu áp dụng những BPKCTT cho phù hợp. Bởi mỗi BPKCTT đều mang lại hậu quả pháp lý riêng biệt và tác động đến một quyền dân sự cụ thể của người bị áp dụng BPKCTT hoặc chủ sở hữu của tài sản bị áp dụng BPKCTT. Trong đó, có bốn BPKCTT có đối tượng là tài sản bao gồm: kê biên tài sản; cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản đang tranh chấp; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
Tuy các biện pháp này có căn cứ áp dụng khác nhau nhưng chúng cùng mang lại hậu quả pháp lý giống nhau đối với chủ sở hữu tài sản. Cụ thể bốn biện pháp này hướng đến mục đích nhằm cô lập tài sản, ngăn chặn chủ sở hữu tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ, hoặc để đảm bảo cho việc thi hành án sau này. Chính vì lẽ đó, lúc này chủ sở hữu tài sản không được quyền chuyển giao tài sản đang tranh chấp, đang bị kê biên, phong tỏa cho một chủ thể khác. Như vậy, có thể hiểu BPKCTT có đối tượng tài sản trong vụ án dân sự là biện pháp mà Tòa án quyết định áp dụng khi có căn cứ áp dụng theo Điều 111 và Điều 135 BLTTDS 2015, tác động đến tài sản đang tranh chấp hoặc tài sản của người có nghĩa vụ nhằm ngăn chặn sự chuyển giao quyền sở hữu của người có quyền.
9 BLTTDS 2015, Điều 111 và Điều 135. 10 Trường Đại học luật Hà Nội. Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam (Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội).2 Chức năng của biện pháp khẩn cấp tạm thời có đối tượng tài sản trong vụ án dân sự BPKCTT không chỉ tác động đến quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo quyền về nhân thân và tài sản cho người tham gia tố tụng mà còn mang ý nghĩa kinh tế nhất định: Thứ nhất, BPKCTT bảo vệ bằng chứng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án. Chứng cứ là yếu tố quan trong trong vụ án, ảnh hưởng đến tính khách quan và kết quả giải quyết vụ án.
Chính vì lẽ đó, khi BPKCTT được áp dụng một cách kịp thời và hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo tiến trình giải quyết cũng như tính chính xác, minh bạch của vụ án. Thứ hai, BPKCTT góp phần đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của người có nghĩa vụ sau khi bản án có hiệu lực. Nhằm hạn chế hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ các BPKCTT liên quan đến tài sản có nghĩa vụ được đặt ra. Theo đó, các biện pháp này hướng đến sự đảm bảo trong việc bảo vệ quyền lợi trong tương lai của bên được thi hành án.12 Thứ ba, BPKCTT mang giá trị kinh tế bởi chức năng bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được.
Thay vì khắc phục hậu quả đã xảy ra, các nhà làm luật đặt ra BPKCTT nhằm ngăn chặn ngay từ đầu các hành vi có nguy cơ xâm phạm tài sản hoặc đe dọa gây thiệt hại. Điều này có ý nghĩa kinh tế to lớn, bởi việc lường trước rủi ro và ngăn chặn thì ít tốn kém thời gian và chi phí so với việc khắc phục các thiệt hại đã xảy ra. 12 Trần Bích Thảo. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án.vn/bitstream/TVDHBRVT/10610/2/000000CVv225S092008050.2 Lịch sử phát triển của biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Việt Nam qua từng thời kỳ Ở Việt Nam, qua các nghiên cứu cho thấy, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về BPKCTT có nguồn gốc từ thủ tục cấp thẩm.
Trong đó tiêu biểu là nghiên cứu của Lê Tài Triển về nội dung này, ông cho đã nhận xét rằng: Pháp đình cấp thẩm và thủ tục cấp thẩm ở Việt Nam được tổ chức và quy định theo khuôn mẫu điển chế của Pháp. Và BPKCTT trong tố tụng dân sự ở Việt Nam bắt nguồn từ thủ tục này vì cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam thì các quy định về tố tụng dân sự của Pháp cũng ảnh hưởng, trong đó có thủ tục cấp thẩm.13 Cho đến các Sắc lệnh trong lĩnh vực tố tụng dân sự cũng còn khá đơn sơ và điều chỉnh một số thủ tục tố tụng cơ bản như khởi kiện, hình, kháng cáo. Trong đó có Sắc lệnh 85/SL ngày 22 tháng 05 năm 1950 về tổ chức các Tòa án và thẩm quyền của Tòa án thì không có nội dung về áp dụng BPKCTT. Sắc lệnh này chủ yếu quy định về cơ cấu tổ chức Tòa án các cấp, quy định về hòa giải, điều tra…và chưa có sự đề cập về thủ tục áp dụng BPKCTT.14 Cho đến giai đoạn các Pháp lệnh ra đời, trong lĩnh vực tố tụng dân sự được ban hành nhiều Pháp lệnh ở từng loại vụ việc khác nhau.
Đây cũng là lần đầu tiên, BPKCTT được ghi nhận với tên gọi này và được xem là một trong các quyền cơ bản của đương sự - quyền yêu cầu Tòa án quyết định (áp dụng) BPKCTT. Bởi vì sự điều chỉnh về tố tụng dân sự trong thời kỳ này được chia ra thành nhiều lĩnh vực nên tương ứng với từng lĩnh vực trong đời sống sẽ có từng loại BPKCTT tạm thời khác nhau. Chẳng hạn như trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, các BPKCTT chủ yếu được áp dụng là buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng; giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chăm nom; trả tiền lương hoặc tiền công lao động…15 Còn đối với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 trong lĩnh vực kinh tế nên BPKCTT được áp dụng là kê biên tài sản đang 13 Nguyễn Văn Hải. Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp luật Việt Nam.
Đại học luật Hà Nội. 14 Sắc lệnh 85/SL ngày 22 tháng 05 năm 1950 về tổ chức các tòa án và thẩm quyền của Tòa án. 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 41. 13 tranh chấp, phong toả tài khoản; cho bán sản phẩm, hàng hoá dễ bị hư hỏng; cho thu hoạch và bảo quản sản vật có liên quan đến tranh chấp; cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hành vi nhất định.16 Hoặc trong lĩnh vực hành chính, Pháp lệnh pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 cũng trao cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án và có hai BPKCTT mà đương sự có quyền yêu cầu bao gồm tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu kiện; cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện những hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án hành chính hoặc để bảo đảm cho việc thi hành án.17 Sự ra đời mang tính bước ngược của BLTTDS 2004 - BLTTDS đầu tiên của Việt Nam, trong đó quy định chi tiết và bao quát hơn về thủ tục tố tụng cơ bản.
Trong đó quy định về BPKCTT cũng dần được hoàn thiện hơn so với các quy định trong Pháp lệnh trước đây. Cụ thể BLTTDS 2004 dành riêng 1 Chương quy định về BPKCTT trong đó có quy định cụ thể nguyên tắc áp dụng của từng BPKCTT cũng như các quy định về BPKCTT như căn cứ áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ, khiếu nại, buộc thực hiện BPBĐ… Hiện nay, BLTTDS 2015 với quy định hiện hành đang được áp dụng, có nhiều sửa đổi bổ sung, dựa trên sự kế thừa từ BLTTDS 2004 nhằm khắc phục vướng mắc trong thực tiễn.