Luận văn: Vụ Enron - Arthur Andersen và bài học kinh nghiệm cho kiểm toán Việt Nam

Nghiên cứu chi tiết vụ bê bối Enron - Arthur Andersen. Phân tích nguyên nhân, sai phạm và rút ra bài học kinh nghiệm cho kiểm toán Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

124
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SỰ KIỆN ENRON - ARTHUR ANDERSEN VÀ CÁC BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

1.1. TÓM TẮT SỰ KIỆN ENRON - ARTHUR ANDERSEN (AA)

1.1.1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ENRON

1.1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ ARTHUR ANDERSEN TỪ 1913 ĐẾN 30/08/2002

1.1.2.1. Quá trình phát triển của nghề nghiệp kiểm toán ở Hoa Kỳ
1.1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của Arthur Andersen

1.1.3. NHỮNG SAI PHẠM VỀ KẾ TOÁN CỦA ENRON

1.1.4. VAI TRÒ VÀ NHỮNG SAI TRÁI CỦA ARTHUR ANDERSEN

1.1.4.1. Vai trò của AA trong vụ Enron
1.1.4.2. Những sai trái của AA trong vụ Enron

1.2. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN

1.2.1. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN

1.2.1.1. Động cơ lợi nhuận và những xung đột lợi ích
1.2.1.2. Hệ thống kiểm soát hoạt động kiểm toán tại Hoa kỳ lỏng lẻo và không hữu hiệu
1.2.1.3. AA thiếu tính độc lập

1.2.2. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN

1.2.2.1. Ảnh hưởng đến hệ thống cung cấp tài chính cho thị trường
1.2.2.2. Ảnh hưởng đến xã hội, lao động và việc làm
1.2.2.3. Ảnh hưởng đến hệ thống quản lý kinh tế - xã hội
1.2.2.4. Ảnh hưởng đến niềm tin của tất cả các thành phần trong xã hội từ chính phủ, đến nhà đầu tư, đến người lao động

1.3. BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

1.3.1. BÀI HỌC VỀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ KIỂM TOÁN VÀ CỦA CÔNG CHÚNG VỀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN

1.3.2. BÀI HỌC VỀ DANH TIẾNG VÀ TỰ KIỂM SOÁT CỦA HÃNG KIỂM TOÁN

1.3.3. BÀI HỌC TỪ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT

1.3.4. BÀI HỌC VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ; SỰ PHỐI HỢP VÀ PHÂN QUYỀN TRONG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT

1.3.5. CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH MẠNH MẼ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ HỘI NGHỀ NGHIỆP

1.3.6. MÔI TRƯỜNG LÀNH MẠNH CHO HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN CHẤT LƯỢNG

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

2.1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM

2.1.1. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM

2.1.1.1. Môi trường của họat động kiểm tóan độc lập Việt Nam
2.1.1.2. Sự phát triển của họat động kiểm tóan độc lập Việt Nam

2.1.2. ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM

2.1.2.1. Khái niệm về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập
2.1.2.2. Đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam

2.2. THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM

2.2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

2.2.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TÓAN TẠI VIỆT NAM (HĐKTĐL)

2.2.3. HỆ THỐNG TỔ CHỨC KIỂM SÓAT CHẤT LƯỢNG KIỂM TÓAN ĐỘC LẬP (KSCLKTĐL) HIỆN HÀNH

2.2.4. Mục tiêu hoạt động của các công ty kiểm toán và tư duy của người hành nghề; Tính chất sai phạm và các nguy cơ sai lầm của kiểm toán Việt Nam

2.2.5. Thực trạng kiểm soát chất lượng và đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSCLKTĐL

2.2.5.1. Thực trạng kiểm soát chất lượng của hệ thống KSCLKTĐL
2.2.5.2. Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSCLKTĐL

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG CÁC BÀI HỌC RÚT RA TỪ SỰ KIỆN ENRON - ARTHUR ANDERSEN CHO KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

3.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3.1.1. CÁC RỦI RO ĐE DỌA XUẤT PHÁT TỪ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG

3.1.2. KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DƯỚI GÓC ĐỘ KINH TẾ HỌC

3.1.2.1. Quan hệ cung cầu
3.1.2.2. Lý thuyết đại diện

3.2. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP (KSCLHĐKTĐL) TẠI VIỆT NAM

3.2.1. ĐỐI VỚI NGƯỜI HÀNH NGHỀ VÀ TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP

3.2.1.1. Nhìn nhận lại giá trị nghề nghiệp để xác định mục tiêu hành nghề đúng đắn
3.2.1.2. Nhìn nhận những xung đột trong nghề nghiệp là những xung đột tiềm tàng có nguy cơ làm tổn hại tính độc lập và danh tiếng nghề nghiệp
3.2.1.3. Tính độc lập là chìa khóa để bảo vệ danh tiếng của kiểm toán viên
3.2.1.4. Phương pháp để ngăn ngừa rủi ro nghề nghiệp là tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực và qui định
3.2.1.5. Hoạt động tự kiểm soát của hãng kiểm toán và Hội nghề nghiệp

3.2.2. ĐỐI VỚI HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN

3.2.2.1. Nhìn nhận các lổ hổng trong hệ thống kiểm soát và tích cực hoàn thiện hệ thống kiểm soát
3.2.2.2. Hệ thống kiểm soát phải bao gồm hai chức năng hướng dẫn và giám sát
3.2.2.3. Cần một hệ thống kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ và độc lập để phát hiện sai lệch kịp thời và ngăn chặn thất bại

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO VẤN ĐỀ KSCLHĐKTĐL VN

3.3.1. CÁC YÊU CẦU TRONG VIỆC THIẾT LẬP CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KSCLHĐKTĐL

3.3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

3.3.2.1. Từ phía Nhà nước
3.3.2.2. Từ phía Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)
3.3.2.3. Từ phía Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC)
3.3.2.4. Từ phía các doanh nghiệp kiểm toán
3.3.2.5. Giải pháp về đào tạo và nghiên cứu

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Sự Kiện Enron Arthur Andersen Bối Cảnh và Diễn Biến

Vụ Enron - Arthur Andersen là một trong những bê bối kế toán lớn nhất thế kỷ 20, xảy ra vào năm 2001. Enron, một công ty năng lượng hàng đầu Hoa Kỳ, đã sử dụng các thủ đoạn kế toán phi pháp để che giấu khoản nợ khổng lồ và tạo ra lợi nhuận giả tạo. Arthur Andersen, một trong Big Five công ty kiểm toán thế giới, đã thất bại trong việc phát hiện và công khai những vi phạm này. Sự sụp đổ của hai tổ chức này đã làm rung chuyển ngành kiểm toán độc lập toàn cầu và dẫn đến những cải cách quản lý và chuẩn mực kiểm toán đáng kể. Bài học từ vụ này có ý nghĩa sâu sắc đối với nền kiểm toán Việt Nam, đặc biệt là trong kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán.

1.1. Quá Trình Phát Triển và Sụp Đổ của Enron

Enron được thành lập năm 1985 và phát triển thành một đế chế năng lượng trị giá hàng tỷ đô la. Công ty sử dụng Special Purpose Entities (SPE) để che giấu các khoản nợ khổng lồ khỏi bảng cân đối kế toán. Những giao dịch này vi phạm Generally Accepted Accounting Principles (GAAP). Năm 2001, khi các nhân viên tiết lộ những bí mật này, Enron sụp đổ chỉ trong vài tuần, gây tổn thất hàng tỷ đô la cho nhà đầu tư và lao động.

1.2. Vai Trò và Những Sai Trái của Arthur Andersen

Arthur Andersen đã thất bại trong nhiệm vụ kiểm toán độc lập cơ bản. Hãng đã không phát hiện những gian lận kế toán của Enron mặc dù có đủ bằng chứng. Thêm vào đó, AA cũng cung cấp dịch vụ tư vấn cho Enron, gây ra xung đột lợi ích nghiêm trọng. Hãng còn hủy tài liệu liên quan đến cuộc điều tra SEC, làm trầm trọng hơn tình hình.

II. Nguyên Nhân Sâu Xa của Sự Kiện Enron Arthur Andersen

Sự kiện Enron - Arthur Andersen không phải là một sự cố đơn lẻ mà là kết quả của nhiều yếu tố cấu trúc và hành vi trong hệ thống kiểm toán độc lập của Hoa Kỳ. Động cơ lợi nhuận là nguyên nhân chủ yếu khi các công ty kiểm toán tìm cách tối đa hóa doanh thu từ cả hoạt động kiểm toán và tư vấn. Hệ thống kiểm soát chất lượng tại thời điểm đó còn lỏng lẻo, thiếu sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan pháp luật. Sự thiếu độc lập của kiểm toán viên khi có mối quan hệ tài chính sâu sắc với khách hàng cũng góp phần vào thất bại này. Những nguyên nhân này cho thấy cần có những cải cách quản lý toàn diện.

2.1. Xung Đột Lợi Ích và Động Cơ Lợi Nhuận

Arthur Andersen không chỉ kiểm toán Enron mà còn cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý có giá trị hàng chục triệu đô la. Điều này tạo ra xung đột lợi ích đáng kể, vì hãng có động lực để giữ khách hàng hài lòng thay vì phát hiện những sai phạm. Mô hình kinh doanh hỗn hợp này đã làm suy yếu tính độc lập cần thiết cho kiểm toán chất lượng cao.

2.2. Hệ Thống Kiểm Soát Lỏng Lẻo

Hệ thống giám sát kiểm toán tại Hoa Kỳ trước năm 2002 thiếu sự tập trung và thực thi. SEC (Ủy ban Chứng khoán) có thẩm quyền hạn chế, và không có cơ quan độc lập để giám sát các công ty kiểm toán. Những hãng kiểm toán tự điều chỉnh, dẫn đến việc không tuân thủ chuẩn mực kiểm toán một cách hiệu quả.

III. Ảnh Hưởng của Sự Kiện và Những Cải Cách Toàn Cầu

Vụ Enron - Arthur Andersen đã gây tác động sâu rộng đến nền kinh tế toàn cầu và niềm tin công chúng vào kiểm toán độc lập. Hàng trăm nghìn nhân viên Enron mất việc làm và tiền hưu trí của họ bị xóa sạch. Các nhà đầu tư chứng khoán bị mất hàng tỷ đô la. Sự sụp đổ của Arthur Andersen gây mất vị trí làm việc cho hàng chục nghìn nhân viên. Niềm tin vào báo cáo tài chínhkiểm toán viên độc lập bị suy yếu nghiêm trọng. Để ứng phó, Hoa Kỳ đã thông qua Luật Sarbanes-Oxley 2002, một bộ luật cải cách toàn diện nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng và độc lập kiểm toán.

3.1. Ảnh Hưởng Kinh Tế và Xã Hội

Sự sụp đổ của Enron đã làm mất giá trị cổ phiếu từ $90 xuống gần 0 trong vài tuần. Các công ty con của Arthur Andersen đã bị tách rời và một số đã sáp nhập vào các hãng khác. Niềm tin công chúng vào báo cáo tài chính công ty đã giảm đáng kể, ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường chứng khoán và nền kinh tế.

3.2. Những Cải Cách Pháp Luật và Chuẩn Mực

Luật Sarbanes-Oxley 2002 được thông qua nhằm cải cách kiểm toán độc lập. Luật này thành lập Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán các công ty niêm yết (PCAOB) để giám sát các công ty kiểm toán. Luật cũng cấm các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý cho khách hàng kiểm toán, loại bỏ xung đột lợi ích chính.

IV. Bài Học cho Kiểm Toán Việt Nam Kiểm Soát Chất Lượng và Độc Lập

Vụ Enron - Arthur Andersen cung cấp những bài học quý báu cho ngành kiểm toán Việt Nam khi đang trong giai đoạn phát triển. Việt Nam cần xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán mạnh mẽ ngay từ đầu, thay vì chỉ sửa chữa sau khi xảy ra thảm họa. Độc lập kiểm toán phải được bảo vệ nghiêm ngặt bằng cách tách rời hoàn toàn hoạt động kiểm toán khỏi tư vấn. Cơ quan quản lý nhà nước cần có thẩm quyền và nguồn lực để giám sát hiệu quả. Hội kiểm toán viên Việt Nam cần xây dựng chuẩn mực kiểm toán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức của kiểm toán viên về trách nhiệm pháp lýđạo đức nghề nghiệp.

4.1. Xây Dựng Hệ Thống Kiểm Soát Chất Lượng Mạnh Mẽ

Việt Nam cần thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng bắt buộc cho tất cả các công ty kiểm toán độc lập. Các công ty phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán độc lập (ISA) một cách nghiêm ngặt. Cần có kiểm tra chất lượng định kỳ từ những kiểm toán viên độc lập và cơ quan nhà nước. Những hình phạt mạnh mẽ cho những hành vi vi phạm sẽ giúp ngăn chặn sự lạm dụng.

4.2. Bảo Vệ Độc Lập và Đạo Đức Nghề Nghiệp

Độc lập kiểm toán là nền tảng của ngành. Việt Nam cần cấm các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán để tránh xung đột lợi ích. Cần có quy định rõ ràng về mối quan hệ tài chính, thời gian giữ khách hàng, và xoay vòng kiểm toán viên chính. Nâng cao đạo đức nghề nghiệptrách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên là yếu tố then chốt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn enron arthur andersen và bài học kinh nghiệm cho kiểm toán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN VÀ CÁC BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Sự phát triển của kiểm toán Hoa kỳ cùng với thất bại lớn nhất trong lịch sử kiểm toán, sai lầm của Arthur Andersen tại tập đoàn năng lượng Enron, là một bài học về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Nghiên cứu sự kiện này trong bối cảnh ngành kiểm toán Hoa Kỳ đang trong thời kỳ phát triển cùng với những rủi ro mà sự phát triển ấy đem lại là để phần nào giúp cho người hành nghề kiểm toán Việt Nam cũng như các cơ quan quản lý Việt Nam nhận thức rõ hơn những nguy cơ sai lầm mà nghề nghiệp kiểm toán có thể mắc phải. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể vừa điều chỉnh kịp thời những sai lầm trong hoạt động kiểm toán vừa giúp sức cho hoạt động kiểm toán phát triển và thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho hệ thống thông tin tài chính.TÓM TẮT SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN (AA) 1.QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ENRON Enron là một công ty chuyên cung cấp khí gas, được thành lập do sáp nhập công ty HNG vào công ty InterNorth năm 1985, đặt trụ sở chính ở Houston, Texas, Hoa Kỳ. Từ năm 1985 đến 1993, Enron đạt lợi nhuận cao trong ngành phân phối khí gas nhờ sự thay đổi chính sách quản lý của chính phủ Hoa Kỳ đối với ngành hàng này.

Từ đó, Enron bắt đầu kinh doanh các lĩnh vực khác như giao dịch phái sinh về năng lượng, nước, điện, than, giấy, viễn thông, kim loại… ở Mỹ, Châu Âu và nhiều nước khác. Chiến lược này đòi hỏi đầu tư rất lớn vào tài sản. Thế nhưng, những dự án này lại không hiệu quả với các khoản lỗ ước tính khoảng 10 tỉ đô la. Thêm vào đó, chi phí hoạt động của Enron từ những năm 1996 cũng tăng lên đáng kể: số lượng nhân viên tăng từ 7.500 người năm 1996 lên đến 20.000 người năm khoa luan, document11 of 138.

tai lieu, luan van12 of 138. 4 2001, mức lương tăng rất cao (trong năm 2000, 200 nhà điều hành với mức lương 1 triệu đô la Mỹ/năm, trong đó, có 26 người lương trên 10 triệu đô la/năm). Tóm lại, những năm cuối thập kỷ 1990, chiến lược đầu tư không hiệu quả và sự quản lý yếu kém đã đưa Enron lâm vào những khó khăn tài chính. Enron đã vay hơn 30 tỉ đô la mà không làm ảnh hưởng đến chỉ số xếp loại tín dụng vì đã không báo cáo đầy đủ nợ phải trả và giấu lỗ.

Sự khuếch trương các chiến lược kinh doanh với những ý tưởng đầy năng động của Enron cộng với thành tích trong ngành năng lượng trước đây, đã hấp dẫn các nhà đầu tư và giá cổ phiếu Enron đạt đến đỉnh cao là 90 đô la/cổ phần. Tháng 1/2000, tạp chí Fotune đã xếp Enron ở hạng thứ 18 trong 100 công ty tốt nhất của Mỹ. Theo báo cáo của Enron năm 2000, doanh thu toàn cầu đạt 100 tỉ đô la, tăng gấp 3 lần so với năm 1998; lợi nhuận tăng 40% trong 3 năm. Bất ngờ, ngày 8/11/2001, Ban giám đốc Enron công bố sửa lại báo cáo tài chính 4 năm 1997- 2000.

Enron thừa nhận đã thổi phồng lợi nhuận, giấu nợ trong những thỏa thuận liên kết phức tạp. Tháng 12/2001, Enron chính thức nộp đơn xin phá sản. Đến thời điểm này, giá cổ phần Enron rơi xuống chỉ còn chưa đầy 1 đô la.QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ ARTHUR ANDERSEN TỪ 1913 ĐẾN 30/08/2002 Cùng với sự phá sản của Enron là sự sụp đổ của một hãng kiểm toán lớn, danh tiếng và lâu đời Arthur Andersen (AA). Các nghiên cứu cho thấy sự cố này không phải là một trường hợp cá biệt mà là một điều không thể tránh khỏi của nghề nghiệp kiểm toán sau một thời gian dài phát triển lệch hướng đã được cảnh báo, tranh cãi nhưng không có giải pháp ngăn ngừa sự thất bại.1 Quá trình phát triển của nghề nghiệp kiểm toán ở Hoa Kỳ Từ khi ra đời đến khi phát sinh vụ Enron-AA, quá trình phát triển nghề nghiệp kiểm toán Hoa Kỳ có thể chia làm 3 giai đoạn : khoa luan, document12 of 138.

tai lieu, luan van13 of 138. 5 GIAI ĐỌAN 1: từ khi ra đời đến trước những năm 1940 - Giai đọan xây dựng nghề nghiệp. Nghề kiểm tóan ở Hoa Kỳ đã ra đời trong những năm cuối thế kỷ 19. Trong giai đoạn này, các công ty kiểm toán đầu tiên được thành lập và các tổ chức nghề nghiệp của kiểm toán viên đã ra đời, trong đó có tổ chức tiền thân của Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) là ASCPA.

Trước 1930, hoạt động kiểm toán là tự nguyện với hơn 90% công ty niêm yết tự nguyện kiểm toán. Sau khi thị trường chứng khóan sụp đổ năm 1929, ASCPA được mời tư vấn các chính sách về báo cáo tài chính. ASCPA đã đưa ra 6 nguyên lý chung về kế tóan. Nhờ đó, danh tiếng ASCPA bắt đầu nổi lên và nghề kiểm toán bắt đầu được coi trọng.

Giai đoạn1933-1934 Luật Chứng khóan và Luật Ủy ban chứng khoán ra đời, bắt buộc các công ty niêm yết phải kiểm tóan. Từ năm 1937 đến năm 1939, ASCPA thành lập Hội đồng chuyên trách về xây dựng qui trình kế tóan, chuẩn mực kế toán và thông cáo về qui trình kiểm tóan. Những nguyên lý kế tóan, qui trình kiểm tóan đầu tiên ra đời. GIAI ĐỌAN 2: thời kỳ từ những năm 1940 đến nửa đầu những năm 1960: Giai đoạn nghề nghiệp phát triển ở đỉnh cao danh tiếng và có nhiều ảnh hưởng.

Trong giai đoạn này, các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán đã đưa ra các chuẩn mực kế toán (GAAP) và các chuẩn mực kiểm tóan (GAAS) đầu tiên. Năm 1950, tất cả các bang và vùng lãnh thổ ở Mỹ ban hành luật về kế toán viên công chứng. Môn học về kế tóan, kiểm tóan được đưa vào các trường đại học. Năm 1959, AICPA thành lập Ủy ban Nguyên lý Kế tóan (APB) nhằm thực hiện các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, phát hành các công bố chính thức về GAAP.

Thập kỷ những năm 1960 được đánh dấu bằng cuộc đối thọai rõ ràng về các nguyên lý kế tóan với sự tham gia tích cực của các hãng kiểm tóan và các viện nghiên cứu học thuật về kế tóan. Trong thời gian này, vai trò và uy tín của kiểm toán viên, của nghề kiểm tóan đạt ở đỉnh cao, bởi tính nghề nghiệp và chất lượng cao của nó. khoa luan, document13 of 138. tai lieu, luan van14 of 138.

6 GIAI ĐỌAN 3: Từ nửa sau những năm 1960 đến 2001: giai đoạn khủng hoảng trong nghề nghiệp với những tai tiếng và kiện tụng. Đây là giai đoạn dư luận xã hội bắt đầu lo lắng đến các vấn đề liên quan đến kiểm toán viên và các nguyên lý kế tóan do APB phát hành. Những vấn đề đe dọa uy tín nghề nghiệp bắt đầu phát sinh và ngày càng gia tăng, xuất phát từ môi trường kinh doanh, hoạt động kiểm toán và phản ứng chưa đầy đủ của các bên. Về môi trường kinh doanh, các công ty phát triển mở rộng đầu tư ra nước ngoài, các hoạt động hợp nhất, mua bán sáp nhập phát triển mạnh, gia tăng áp lực cho các giám đốc điều hành và kế toán công ty về doanh thu, lợi nhuận.

Các áp lực của khách hàng dồn lên các kiểm toán viên. Trong khi đó, Ủy ban Chống Độc quyền Liên bang, Bộ Tư pháp và Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ lại cho phép cạnh tranh tự do trong ngành kiểm toán, làm cho AICPA phải xóa bỏ các điều cấm về môi giới, hoa hồng, lôi kéo khách hàng. AICPA và Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) sử dụng khái niệm “phạm vi dịch vụ” để vừa cho phép, vừa hạn chế KTV thực hiện một số dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán. Trong hoạt động kiểm toán, mục tiêu của các hãng kiểm toán trong thời kỳ này là lợi nhuận và lợi ích của ban gíam đốc khách hàng thay cho những giá trị nghề nghiệp truyền thống là độc lập, khách quan, chính trực và lợi ích của cổ đông.

Tư duy tư vấn thay cho tư duy kiểm toán; Hình ảnh công ty kiểm toán là các công ty kinh doanh tư vấn đa dịch vụ, kiểm toán viên là những nhà tư vấn tinh thông chứ không phải là những nhà xác nhận đáng tin cậy. Bên cạnh đó, cạnh tranh mãnh liệt giữa các hãng kiểm toán khiến giá phí kiểm toán hạ thấp. Các hãng kiểm toán dùng hoạt động kiểm toán để bước vào hoạt động tư vấn có phí cao. Việc theo đuổi lợi nhuận thay thế những nỗ lực hoàn thiện những gía trị nghề nghiệp.

Sự bãi bỏ những điều cấm về lôi kéo khách hàng cùng với việc cho phép cung cấp dịch vụ tư vấn đã thay đổi tính chất mối quan hệ giữa kiểm toán viên với khách hàng. Có nhận định cho rằng: kiểm toán không còn là một nghề nghiệp nữa, mà là một công nghệ, kể cả sự cạnh tranh, quảng cáo giá rẻ và lôi kéo khoa luan, document14 of 138. tai lieu, luan van15 of 138. 7 khách hàng (Stephen A.

Trong từng công ty kiểm toán, xung đột nội bộ phát sinh giữa các chủ phần hùn kiểm toán và các chủ phần hùn tư vấn, vì thu nhập từ hoạt động tư vấn cao hơn hoạt động kiểm toán. Điều đó tăng thêm áp lực lên các chủ phần hùn kiểm toán và các kiểm toán viên (KTV) vì mục tiêu tìm và giữ khách hàng. Các yêu cầu bản lĩnh nghề nghiệp bị đẩy xuống hàng thứ yếu, khiến các KTV không thể độc lập với khách hàng. Kết quả của quá trình trên là các vụ scandal tài chính nổ ra liên tục, làm phát sinh nghi ngờ về sự xác nhận của KTV vốn được xem là đáng tin cậy.

Nhiều công ty kiểm toán bị dư luận phê phán, bị kiện tụng, bồi thường, chẳng hạn như sai lầm của KPMG tại Xerox Corp, Rite Aid Corp; Ernst & Young tại AOL Time Warner Inc, Cendant Corp; PWC tại IBM Corp, Lucent Technologies Inc; Deloitte Touche Tohmatsu (DTT) tại Boeing Corp …(Sundi Zhao, 2006). Kết quả điều tra của SEC với PWC từ 1996 - 1998 cho thấy có 8.000 lần vi phạm tính độc lập kiểm toán viên do các kiểm toán viên đầu tư vào khách hàng kiểm toán, trong đó 86.5% là vi phạm của chủ phần hùn (Sean M. Trong bối cảnh đó, thái độ và phản ứng của các cơ quan quản lý và người hành nghề không được đúng mức. Các thẩm phán cho rằng KTV phải duy trì tính độc lập với khách hàng và hoàn toàn trung thực với công chúng, nhưng không có điều khoản luật nào chế tài các sai phạm của kiểm toán viên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ