Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Các khái niệm làm việc 1. Hộ gia đình Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người.
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người [43]. Khái niệm hộ gia đình cũng có nhiều quan niệm khác nhau nhưng trong luận văn này, tác giả sử dụng hai khái niệm sau về hộ gia đình: “Hộ gia đình là một nhóm những người thường có quan hệ gia đình hoặc đôi khi không có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng sống chung, cùng sở hữu chung về tài sản và tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ” [25, tr. Hộ gia đình còn được định nghĩa là “có một hoặc nhiều người cùng sống trong một nhà hoặc một đơn vị nơi ở, chia sẻ việc chi tiêu và thường ăn chung” [11, tr. Lê Tiêu La và Lê Ngọc Hùng trong một nghiên cứu đã chia hộ gia đình trong ngư nghiệp thành ba loại: Hộ thuần ngư: chỉ khai thác và đánh bắt cá trên biển.
Hộ hỗ hợp: Không chỉ khai thác và đánh bắt hải sản mà còn các ngành nghề khác: chế biến, nuôi trồng hải sản và buôn bán hải sản gắn liền với nghề đánh bắt cá. Hộ phi ngư: thoát ly hẳn với nghề đánh bắt cá [12, tr. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, hộ thuần ngư và hộ ngư nghiệp cũng được tác giải sử dụng để phân tích. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đánh bắt hải sản Đánh bắt hải sản là hình thức khai thác sản phẩm từ biển. Đánh bắt có hai hình thức là đánh bắt gần bờ và đánh bắt xa bờ. Đánh bắt gần bờ là loại hình đánh bắt qui mô nhỏ với khoảng cách dưới 10 hải lý tính từ đất liền, thường sử dụng tầu dưới 20 tấn và hoạt động trong ngày [52]. Đánh bắt xa bờ là loại hình đánh bắt ngoài tầm 3-10 hải lý tính từ đất liền, đánh bắt nhiều loại thủy hải sản với sản lượng lớn, do đó kéo theo tàu cá đánh bắt xa bờ phải có công suất từ 100Cv trở lên ,thời gian đánh bắt dài ngày [52].
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng một số cụm từ về loại hình đánh bắt như đánh lưới rùng, đánh bát quái, đánh giã cào. Theo quan sát và ý kiến của người dân, lưới rùng là loại lưới có cấu tạo tương đối đơn giản, gồm có ba bộ phận chính: cánh lưới, thân lưới và túi lưới và có bộ phận phụ như hệ thống dây kéo, que ngáng, cọc ngắn, lưới chắn… Lưới bát quái là loại bẫy đan bằng lưới dài, được cố định trong một cái khung sắt nhỏ khoảng 30x30 cm nối tiếp nhau. Lưới đánh giã cào đôi và giã cào đơn có hình dạng túi, miệng túi được mở lớn bằng giềng phao ở trên, giềng chì ở dưới và hai cánh lưới ở hai bên cào sát đáy biển để bắt cá. Kéo lưới dùng hai tàu để kéo lưới gọi là lưới kéo đôi hay giã cào đôi, một tàu kéo lưới thì gọi là lưới kéo đơn hay giã cào đơn.
Đánh giã cào đơn hay giã cào đôi đều phải dùng tàu công suất lớn từ 90CV đến 400 CV. Buôn bán hải sản Buôn bán là hình thức trao đổi hàng hóa nói chung. Trong khái niệm buôn bán gồm có hai lại là bán buôn và bán lẻ. Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng và không bán lại.
Bán lẻ nói chung là hoạt động cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng [15, tr. Bán buôn là việc bán hàng cho các nhà buôn, thường là bán với khối lượng lớn để bán lại cho khách hàng [15, tr. Trong khuôn khổ đề tài, hoạt động buôn bán hải sản là hoạt động được chia làm hình thức như sau: Buôn bán hải sản nhỏ lẻ là hình thức mà những hộ buôn bán nhỏ lẻ thường mua sản phẩm của những hộ đánh bắt gần bờ và mang ra chợ làng, chợ huyện bán cho khách hàng. Buôn bán hải sản của đại lý nhỏ: là hình thức bán 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các sản phẩm từ biển với vốn đầu tư trung bình.
Hoạt động của những đại lý bán theo vốn đầu tư cấp trung này có thể bán cho n đại lý lớn khác, là khâu trung gian đưa sản phẩn đến tay người tiêu dùng hoặc kết hợp với cửa hàng bán sản phẩm. Buôn bán hải sản của đại lý lớn là loại hình bán những sản phẩm khai thác từ biển đến nhiều đại lý vừa và nhỏ hoặc phân phối sản phẩm đến nhiều cơ sở buôn bán ở tỉnh khác. Loại hình này cần nhiều vốn đầu tư và thị trường tiêu thụ quy mô lớn. Hoạt động đánh bắt và buôn bán hải sản dưới góc nhìn vốn xã hội Vốn xã hội là một trong năm loại vốn khác nhau: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội.
Vốn xã hội bắt đầu xuất hiện từ khái niệm “vốn xã hội” của Lyda Judson Hanifan nhà giáo dục Mỹ, nói đến lần đầu tiên năm 1916. Ông đã nhắc đến vốn xã hội khi ông ta thảo luận về quan hệ trong các trường học vùng thôn dã tại Bắc Mỹ. Ông cho rằng vốn xã lội là “ những giá trị hiện thực đó có tác dụng lên hầu hết cuộc sống hàng ngày của con người” [trích lại từ 39]. Từ khái niệm sơ khai đó mà vốn xã hội bắt đầu được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu trên thế giới.
Vốn xã hội được dùng như nhiều loại vốn khác. Trên phạm vi toàn thế giới, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về vốn xã hội. Bourdieu (1986) định nghĩa vốn xã hô ôi là mô ôt “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hê ô quen biết nhau và nhâ ôn ra nhau, ít nhiều đã được định chế hóa”. Ông cho rằng “khối lượng vốn xã hô ôi của mô ôt tác nhân cụ thể nào đó phụ thuô ôc vào mức đô ô liên hê ô rô ông hay hẹp mà anh ta có thể huy đô ông được trong thực tế, và vào khối lượng vốn (vốn kinh tế, vốn văn hóa hay vốn biểu tượng) của từng người mà anh ta có liên hê ô” [trích lại từ 16, tr.
Năm 1990, nhà xã hô ôi học người Mỹ James Coleman đưa ra mô ôt cách định nghĩa vốn xã hô ôi như: các mạng lưới xã hô ôi, các chuẩn mực, và sự tin câ ôy trong xã hô ôi – là những cái giúp cho các thành viên có thể hành đô ông chung với nhau mô ôt cách có hiê ôu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung [29]. Năm 1995, nhà chính trị học Robert Putnam quan niệm vốn xã hội “Hiểu mô ôt cách tương tự như những khái niê ôm vốn vâ ôt thể và vốn con người – đây là những phương tiê ôn và đào tạo làm gia tăng năng suất của cá nhân –, “vốn xã hô ôi” nói tới 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những khía cạnh đă ôc trưng của tổ chức xã hô ôi như các mạng lưới xã hô ôi, các chuẩn mực, và sự tin câ ôy trong xã hô ôi vốn tạo điều kiê ôn thuâ ôn lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương” [35, tr. Theo Putnam thì vốn xã hội đề cập đến các kết nối giữa các mạng cá nhân, xã hội và các chuẩn mực có đi có lại và sự tin cậy. Vốn xã hội tạo ra có yếu tố tích cực nhưng cũng tạo ra những yếu tố tiêu cực cho các thành viên trong nhóm.
Trong cùng một mạng lưới, sự tương tác giúp cho các cá nhân tương hỗ lẫn nhau, có đi có lại và có sự ràng buộc [ 48]. Fukuyama có đă ôc điểm là nhấn mạnh hơn đến yếu tố chuẩn mực xã hô ôi. Ông viết như sau : “Vốn xã hô ôi là mô ôt chuẩn mực phi chính thức được biểu hiê ôn trong thực tế thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân. Các chuẩn mực làm nên vốn xã hô ôi có thể bao gồm từ chuẩn mực có đi có lại giữa hai người bạn, cho tới những học thuyết phức tạp và được kết cấu mô ôt cách tinh tế như Ki-tô giáo hay Khổng giáo.
Những chuẩn mực này phải được biểu hiênô trong thực tế, trong mối liên hê ô có thực giữa con người với con người : chuẩn mực có đi có lại tồn tại trong tiềm thể, trong lối xử sự của tôi với mọi người, nhưng nó chỉ được hiênô thực hóa khi tôi xử sự với bạn bè của tôi mà thôi. Theo định nghĩa này, sự tin câ ôy, các mạng lưới , xã hô ôi dân sự, và những thứ tương tự, vốn gắn liền với vốn xã hô ôi, đều là những hiênô tượng thứ phát, nảy sinh do vốn xã hô ôi chứ không phải là bản thân vốn xã hô ôi. Theo Ngân hàng thế giới (1999) định nghĩa, “ Vốn xã hội liên quan đến thể chế, những mối quan hệ chuẩn mực làm định hình chất lượng và số lượng của các tương tác xã hội trong xã hội. Có nhiều bằng chứng cho thấy tính gắn kết xã hội là rất quan trọng đối với các xã hội có thể trở nên phồn thịnh về kinh tế và phát triển một cách bền vững.
Vốn xã hội không chỉ là tổng số đơn thuần các thể chế tạo nên một xã hội – nó còn có chất keo dính gắn kết chúng lại với nhau” [ 22, tr. Một nhà xã hội học khác là Halpern, ông cho rằng vốn xã hội "đề cập đến các mạng xã hội, chỉ tiêu, biện pháp trừng phạt mà tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác giữa các cá nhân và cộng đồng" [34, tr. Sự hợp tác và tin tưởng giữa người dân 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể được xem như là một hình thức của vốn xã hội [34, tr.