CHƯƠNG I TỎNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Làng Việt đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Thi nhát là về phân loại làng và làng nghề. Nghiên cứu về làng, các nhà khoa học thường phân chia làng theo những cách khác nhau.
Cách phân loại phổ biến là dựa vào tiêu chí nghề nghiệp của người làng, từ đó chia làng thành làng thuần nông, làng buôn, hay làng nghề thủ công. Một cách phân loại khác sử dụng tiêu chí địa lý vùng miễn và phân loại làng thành làng Bắc Bộ, làng Trung Bộ và làng Nam Bộ. Một cách phân loại sử dụng tiêu chí văn hóa tộc người và phân loại và gọi tên làng theo tộc người như làng người Việt, bản của các tộc người dân tộc thiêu số miền núi phía Bắc, và buôn của các dân tộc thiêu số ở Tây Nguyên, v. Trong những năm gan đây, khi đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, một số nhà nghiên cứu sử dụng tiêu chí địa lý nông thôn — đô thị và phân loại làng thành làng nông thôn, làng ven đô, làng đô thị (Nguyễn Văn Sửu, Chu Thu Hường, 2015).
Thứ hai, giai đoạn thế kỷ XX chứng kiến sự ra đời của một số lượng lớn các công trình nghiên cứu về làng ở Việt Nam. Trong đó phải kê đến các nghiên cứu quan trọng về làng của Phan Đại Doãn (1964, 1992, 2001), Trần Từ (1984), Bùi Xuân Đính (1998), J. Kleinen (2004), Nguyễn Quang Ngọc, Lâm Bá Nam, và nhiều tác giả khác. Các nghiên cứu về làng ở giai đoạn này đã giúp chúng ta hiểu rõ nhiều chiều cạnh và bản chất của làng Việt Nam trong lịch sử cho đến cuối thế kỷ XX.
Từ khá sớm, tác giả Phan Đại Doãn (2001) đã phân tích các vấn đề kinh tế làng và nông dân. Ông chỉ ra rằng kinh tế tiểu nông nhìn chung là bấp bênh, 10 phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, ít có thặng dư cho tái sản xuất. Nhưng các làng Việt truyền thống ở đồng bằng sông Hồng có đặc điểm chung là ‘da nguyên" và có kết cấu xã hội chặt. Trong khi đó, tác giả Hà Văn Tan vào năm 1987 nhắn mạnh đến những liên kết bên ngoài làng.
Ông cho rằng các nhà khoa học phải chú ý đầy đủ đến các mối liên hệ giữa làng với bên ngoài bản thân mỗi làng và đó chính là các mối liên hệ liên làng, siêu làng. Theo đó, nghiên cứu làng không chỉ quan tâm đến làng như các đơn vị cư trú độc lập, mà nhà nghiên cứu còn phải xem xét mối liên hệ giữa các làng với nhau và làng với nước dé thay được các mỗi quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, lịch sử như là những tương tác qua lại giữa các làng với nhau và giữa làng với nước mà trước hết là nhà nước. Luận điểm của tác giả Hà Văn Tan là một quan điểm khoa học rat hay của ông trong bối cảnh trên thế giới đương thời đang diễn ra cuộc tranh luận có phần liên quan đến vấn đề làng Việt có cấu trúc đóng hay mở của hai nhà khoa học chính trị. Trong những năm 1970, cuộc tranh luận này diễn ra như là một phần trong tiếp cận “kinh tế đạo đức” của James C.
Scott (1976) và tiếp cận “người nông dân duy ly’ của Samuel L. Day là những tiếp cận lý thuyết phân tích về bản chất và hành vi của người nông dân như là những con người duy tình, hay duy lý, hoặc cả hai đã được các nhà khoa học bàn nhiều (Nguyễn Văn Sửu, 2002). Trong một bài báo, tác giả Nguyễn Văn Sửu (2002) đã phân tích hai tiếp cận nêu trên cùng với cách tiếp cận quan hệ giữa nhà nước và xã hội của nhà khoa học chính trị Ben Kerkvliet. Có thé nói, ba tiếp cận này của ba nhà khoa học chính trị nghiên cứu về Việt Nam đã không chỉ đóng góp quan trọng vào nghiên cứu nông dân và làng Việt mà còn tạo ra những bàn luận kéo dài cho đến tận hiện nay trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác.
11 Ở một góc nhìn khác, nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc (1996) nhấn mạnh đến sự hồi sinh của thiết chế thôn truyền thống. Thay vì nhìn làng như một đơn vị tụ cư, tác giả nhắn mạnh chức năng quản lý phi quan phương (thôn) trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Thôn có chức năng giúp chính quyền địa phương thực thi các chính sách và quản lý dân cư. Thực tiễn công tác quản lý nông thôn Việt Nam trong hơn 35 năm đổi mới cho thấy nhà nước đã khai thác thiết chế thôn như một công cụ quản lý hiệu quả của chính quyền địa phương ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng của người Việt.
Thứ ba, trong bối cảnh Việt Nam xây dựng nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ và đây mạnh hội nhập quốc tế từ đầu thế kỷ XXI đến nay, làng tiếp tục là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm theo các hướng tiếp cận mới. Một trong các hướng tiếp cận làng giai đoạn này là phân tích và lý giải biển đổi không gian làng. Ví dụ, các tác giả Nguyễn Văn Sửu và Chu Thu Hường đã phân tích và lý giải những biến đổi không gian của làng Đồng Ky, qua đó cho thấy sự biến đổi mạnh mẽ trong các không gian cư trú, không gian sản xuất, và không gian thiêng. Trong một bài viết gần đây, hai tác giả phân tích sự song hành của hai quá trình hiện đại hóa và truyền thống hóa trong các không gian khác nhau ở Đồng Ky (Nguyễn Văn Sửu và Chu Thu Hường, 2021).
Một hướng tiếp cận khác tập trung phân tích biến đổi sinh kế. Trong nhiều làng truyền thống, nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng, là sinh kế chủ đạo của nhiều hộ gia đình, tạo nên các làng nông, tức làng của người nông dân làm nông nghiệp. Quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, đô thị hóa và thị trường hóa làm biến đôi phương thức mưu sinh truyền thống của nhiều hộ gia đình ở các làng Việt. Trong đó có thé kế tới nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lang (2010) phân tích quá trình phát triển của làng nghè thủ công từ khi bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới.
Nghiên cứu của tác giả Lâm Minh Châu (2017) đã cho thấy người nông dân trở thành những con người đa-gi-năng hội 12 tụ trong mình nhiều tô chất mà các nhà khoa học đã nói đến, như duy lý và duy tình, 6n định và phát triển, v. Trong hướng tiếp cận biến đồi sinh kế nông dân thì khu vực ven đô được không ít nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Ví dụ, tác giả Nguyễn Văn Sửu (2014) phân tích sự biến đổi sinh kế của người nông dân do tác động trực tiếp của các chính sách phát triển công nghiệp và đô thị ở khu vực ven đô Hà Nội. Tiếp theo đó, nhiều nghiên cứu khác phân tích các trường hợp đa dạng ở các địa bàn cụ thể tại vùng ven đô Hà Nội (ví dụ Phan Thị Ngọc, 2020).
Một hướng tiếp cận quan trọng khác phân tích biến đổi văn hóa làng, nhất là biến đổi văn hóa làng ven đô. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Trần Thị Hồng Yến (2013) và một số nhà khoa học học khác đã làm rõ sự biến đổi văn hóa ở các làng cụ thể. Các nghiên cứu này thé hiện một nhận định chung là văn hóa làng có sự biến đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, đô thị hóa, đù ở một số chiều cạnh chúng ta cũng nhận thấy su phục hồi hay duy trì của các yếu tố truyền thống. Một số khái niệm cơ bản Vốn xã hội Vốn (capital) là một khái niệm quan trọng trong khoa học xã hội cũng như đời sống thường ngày.
Dù được lý giải theo nhiều góc độ khác nhau, nhìn chung, các học giả đều hướng đến sự thống nhất rằng, vốn là (1) sự phụ thuộc vào bat cứ hình thức vật chất nào, được sử dụng hoặc có san dé sử dung; (2) phần tài sản còn lại của một doanh nghiệp hoặc cá nhân sau khi được khấu trừ chi phi; và (3) bat cứ tai sản hoặc lợi thé nào (Halpern, 2005: 4). Theo khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì vốn xã hội là một trong năm loại vốn: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn con người, và vốn xã hội). Về định nghĩa khái niệm vốn xã hội, mỗi tác giả ở các góc độ nghiên cứu của mình lại đưa ra những quan niệm khác nhau. Với Bourdieu, vôn 13 xã hội là tập hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm ân xuất phát từ các mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (Phạm Huy Cường, 2014).
Theo Fukuyama, vốn xã hội là các chuẩn mực không chính thức thúc đây sự hợp tác giữa các cá nhân, nó tồn tại tiềm tàng giữa những cá nhân với nhau (Nguyễn Tuấn Anh, 2010: 20). Portes cho rằng vốn xã hội là khả năng đạt được các lợi ích thông qua tình bằng hữu trong các mạng lưới và cấu trúc xã hội (Nguyễn Tuấn Anh, 2010: 24). Dù có không ít định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, khái niệm này thường được hiểu xoay quanh ba yếu tổ có liên hệ mật thiết với nhau là: khả năng làm việc chung với nhau, sự tin cậy g1ữa con người với nhau và các mạng lưới xã hội (HJollund, Paldam, Svendsen, 2001). Nguyễn Tuấn Anh (2011: 9- 10) đã chi ra những điểm thống nhất sau đây: a) Vốn xã hội gắn liền với mạng lưới xã hội và quan hệ xã hội; (2) Vốn xã hội là nguồn lực; b) Vốn xã hội được tao ra thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội, hoặc mạng lưới xã hội, và các cá nhân có thé sử dụng von xã hội dé tìm kiếm lợi ích; c) Sự tin cậy và quan hệ có đi có lại là thành tố tạo nên vốn xã hội.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy nhiều học giả khi bàn về vốn xã hội cũng thống nhất với nhau một điểm khác nữa; d) Vốn xã hội có thể chuyên đổi qua lại với các loại vốn khác như vốn kinh tê, vôn văn hoá, vôn con người. Trong khoa học xã hội, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các loại hình cùng những biểu hiện của vốn xã hội cũng như các thành tố tạo nên vốn xã hội. Một cơ sở được khá nhiều học giả đồng tình như Woolcock và Narayan (2000) hay Halpern (2005) đó là dựa vào hình thức, quy mô của vốn xã hội để phân loại vốn thành vốn xã hội co cụm bên trong (bonding); vốn xã hội vươn ra bên ngoài (bridging), và vốn xã hội kết nối (linking).