CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA DIA BAN NGHÊN CỨU 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cho đến nay, trên thé giới và ở Việt Nam, nhiều tác giả khác nhau đã công bố nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề vốn xã hội. Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả sẽ điểm lại những luận điểm quan trọng liên quan đến đặc điểm vốn xã hội qua nghiên cứu của một số tác giả đáng lưu ý trong và ngoài nước. Cụ thê là, qua các nghiên cứu đi trước, tác giả sẽ nhìn lại đặc điểm của vốn xã hội qua hai thành tố quan trọng là mạng lưới xã hội và lòng tin. Dưới đây, hai mục cụ thé sẽ lần lượt dé cập đến hai nội dung này.
Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội Vốn xã hội là một chiều cạnh quan trọng được các tác giả bàn đến khi nghiên cứu vốn xã hội. Tác giả quan trọng đầu tiên nghiên cứu về vốn xã hội là Bourdieu (1986) qua nghiên cứu “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn) cho rằng rằng vốn xã hội đến từ mạng lưới xã hội tương đối bền vững [10]. Trong khi đó, nhà xã hội học Coleman (1988) với các ấn phẩm “Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tạo dung von con người) lại khẳng định vốn xã hội ở trong mạng lưới xã hội [11]. Một tác giả nỗi tiếng khác là Putnam (2000) với cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Choi bowling một mình: Sự sụp đồ va hồi sinh của cộng đồng Hoa Ky) lại khang định rằng mang lưới xã hội là một thành tố của vốn xã hội [16].
Trong khi đó Portes qua an phẩm "Social Capital: Its 12 Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dung trong xã hội học hiện dai) lại quan sát vốn xã hội thông qua mạng lưới xã hội. Dưới một góc nhìn nhất định, các tác giả trên đã khăng định một trong những chiều cạnh quan trong cua vốn xã hội là mạng lưới xã hội [15]. Liên quan đến mạng lưới xã hội, Bourdieu (1986) qua nghiên cứu “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn) nhấn mạnh rằng mạng lưới xã hội là kết qua của các chiến lược đầu tư và người ta dùng mạng lưới này dé tìm kiếm lợi ích trong ngắn hạn hay dài hạn[10]. Nhà xã hội hoc Portes (1998) với ấn pham "Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hoi: Nguồn sốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện đại) lại nhấn mạnh khả năng tìm kiếm lợi ích qua việc trở thành thành viên của các mạng lưới xã hội [15].
Như vậy, các nhà nghiên cứu ở trên đã khẳng định việc tạo dựng, duy trì và sử dụng mạng lưới xã hội dé tìm kiếm lợi ích. Tác giả Hoàng Bá Thịnh (2009) qua bài viết “Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tôn” đã cho rang việc người nông dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng như tang ma, cưới xin, vv. là cách dé họ tạo dựng vốn xã hội theo nghĩa là mạng lưới xã hội [2]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh (2010) qua công trình “Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village” (Ho hàng như là vốn xã hội: Các khía cạnh kinh tế, xã hội văn hóa của quan hệ họ hàng đang chuyền đổi ở một làng miền Bắc Việt Nam) đã chứng minh răng các lễ nghi quan trọng trong đời sống cộng đồng 13 như giỗ chạp, cưới xin, tang ma là những chất keo xã hội (social glues) kết nối các cá nhân lại với nhau thành mạng lưới [7].
Nghiên cứu cua Stephen. J Appold va Nguyen Quy Thanh (2004) với tên gọi “The Prevalence and Costs of Social Capital among Small Businesses in Vietnam” (Sự phô biến và cái gid của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam) dựa trên kết qua khảo sát nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở đã khăng định rằng nhiều doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn nhân lực bên ngoài ngoài mạng lưới bạn bè và gia đình [9]. Một nghiên cứu khác là nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng (2008) với tên gọi “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội” đã cho rằng mạng lưới xã hội của người lao động, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng di cư, vai trò của các loại vốn trong xóa đói, giảm nghèo [3]. Trong nghiên cứu này, Lê Ngọc Hùng (2008) cũng khang định rang mạng lưới truyền thống bị phá vỡ bởi đô thị hóa và người ta phải dựa vào mạng lưới ngoài làng xã dé tìm việc, nâng cao trình độ chuyên môn.
Nguyễn Tuấn Anh (2013) qua bài viết “Vốn xã hội và kinh tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ” chứng minh tầm quan trọng của vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội trong phát triển kinh tế của các hộ gia đình [4]. Công trình nghiên cứu “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (2015) [5] va công trình “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ từ những hướng tiếp cận khác nhau” do Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Tuấn Anh (2015) đồng chủ biên [6] đã làm rõ nhiều chiều cạnh của việc tạo dựng, duy trì mạng lưới xã hội cũng như vai trò của mạng lưới xã hội trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, dé bạt, bổ nhiệm nhân lực trẻ. Luận văn thạc sy “Tao dựng và phát triển vốn xã hội của nhân lực trẻ thành phố Hà Nội hiện nay” (2014), Phạm Thị Huyền chỉ ra phương thức nhân lực trẻ tạo dựng 14 vốn xã hội bằng việc tích cực tham gia vào chính các hoạt động trong các mạng lưới xã hội của họ và và phát triển vốn xã hội thông qua việc tăng cường mở rộng các mối quan hệ từ chính các mạng lưới xã hội đó [8]. Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện lòng tin Long tin là chiều cạnh quan trọng thứ hai của vốn xã hội được các tác giả trong và ngoài nước đi sâu tìm hiểu.
Nhà nghiên cứu Coleman (1988) với các ấn pham “Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tao dựng vốn con người) lại khẳng định lòng tin là một hình thức của vốn xã hội [11]. Tác giả Fukuyama (2001) với nghiên cứu “Social Capital, Civil Society and Development” (vốn xã hội, xã hội công dân và phát triển) [12]; Fukuyama (2002) với công trình “Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp đến) [13] lại quan niệm vốn xã hội biểu thị sự tin cậy. Trong khi đó nhà xã hội học Portes (1998) qua ấn pham "Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện đại) khang định lòng tin là nguồn gốc của vốn xã hội [15]. Nha nghiên cứu Putnam (2000) qua cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Choi bowling một mình: Sự sụp đồ và hồi sinh của cộng đồng Hoa Ky) lại cho rằng sự tin cân là một thành tố của vốn xã hội [16].
Như vậy, qua các tác giả noi tiéng ở trên chúng ta thay một trong những chiều cạnh quan trọng của vốn xã hội là lòng tin hay sự tin can. Liên quan đến lòng tin, Fukuyama (2001) và Fukuyama (2002) qua các nghiên cứu “Social Capital, Civil Society and Development” (vốn xã hội, xã hội công dân và phát triển); và “Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp đến) cho biết người ta tạo ra vốn xã hội, trong đó bao gồm lòng tin, để phục vụ mục đích của mình [12], [13]. Nguyễn Tuấn Anh (2010) qua công trình nghiên cứu “Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village” (Ho hang nhu là vốn xã hội: Các khía cạnh kinh tế, xã hội văn hóa của quan hệ họ hàng đang chuyên đôi ở một làng miền Bắc Việt Nam)” đã chi ra rằng các lễ nghi quan trọng trong đời sống cộng đồng như giỗ chạp, cưới xin, tang ma là những dip quan trọng dé tái khang định lại sự kết nối và lòng tin giữa những người trong mạng lưới họ hàng [7]. Nói cách khác Fukuyama (2002) nhắn mạnh đến ý nghĩa, tác dụng của lòng tin khi bàn đến vốn xã hội, nhất là lòng tin giữa những người thân thuộc.
Putnam trong công trình ”Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Choi bowling một minh: Sự sụp đồ va hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) lại chứng minh tác dụng tích cực của lòng tin trong việc nâng cao học vấn, nâng cao phúc lợi trẻ em, nâng cao an toàn trong cộng đồng và hạnh phúc cá nhân [16]. Nguyễn Tuấn Anh (2013) qua bài viết “Vốn xã hội và kinh tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ” đã làm rõ vai trò của lòng tin trong quá trình vận hành của các nhóm tín dụng xoay vòng [4]. Công trình nghiên cứu “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim 16 Hoa (2015) [6] và công trình “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ từ những hướng tiếp cận khác nhau” do Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Tuấn Anh (2015) đồng chủ biên [5] đã làm rõ nhiều chiều cạnh của việc tạo dựng, duy trì lòng tin cũng như vai trò của lòng tin trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, dé bạt, bổ nhiệm nhân lực trẻ. Tóm lại qua tổng quan tài liệu, chúng ta có thể thấy chủ đề vốn xã hội đã và đang được nhiều tác giả cả trong và ngoai nước quan tâm nghiên cứu.
Liên quan đến các nghiên cứu tập trung vào lòng tin và mạng lưới xã hội, các nghiên cứu đi trước cũng đã bàn sâu về hai yếu tố này trên nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, đặc điểm của vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ trong các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội trên hai phương diện lòng tin và mạng lưới xã hội thì chưa được các nghiên cứu đi trước đi sâu tìm hiểu. Vì vậy, đây sẽ là van đề mà luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu.Khái niệm làm việc 1.