CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Lý thuyết về các DNNVV 1.1 Khái niệm về DNNVV Trong lịch sử kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia; tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước hay khu vực mà các nhà kinh tế, các chính phủ đưa ra các khái niệm khác nhau về DNVVN. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. Căn cứ vào quy mô, DNNVV có thể chia thành ba loại là: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo tiêu chí về lao động, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ 10 người đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở Pháp, vào thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới lần hai, người ta có thói quen gọi các DNNVV là các doanh nghiệp có từ 10 cho đến 500 nhân công. Các doanh nghiệp thật nhỏ là những doanh nghiệp có từ 10- 19 nhân công. Theo khối EU, DNNVV là những doanh nghiệp có dưới 250 nhân công, chia ra: từ 1- 9 là siêu nhỏ, 10- 49 là nhỏ và 50- 249 là vừa.
Hiện nay, EU phân loại DNNVV theo 3 tiêu chí: Số lao động, doanh số và tổng tài sản.1 Phân loại các DNNVV theo khối EU Loại DN Số lao động Doanh số Tổng tài sản trên bảng cân (người) (triệu euro) đối (triệu euro) DN vừa < 250 50 43 DN nhỏ < 50 10 10 DN siêu nhỏ < 10 2 2 Nguồn: http://ec.eu/enterprise/policies/sme/facts-figures-analysis/sme-definition/ index_en.htm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Theo Bộ kinh tế, Tài chính và Công nghiệp Pháp (MEF), “Không tồn tại một định nghĩa thống nhất về các DNNVV. Các tiêu chí được áp dụng khác nhau tùy theo các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ các DNNVV”. Tại Việt Nam, Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Như vậy theo quan niệm của Việt Nam, DNNVV là tập hợp những doanh nghiệp không phân biệt lĩnh vực kinh doanh có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người và không có tiêu chí xác định cụ thể chi tiết DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa.
Khái niệm này được điều chỉnh một cách chi tiết hơn, mang tính thời sự hơn bởi Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 (ban hành thay cho Nghị định 90/2001/NĐ- CP) về trợ giúp phát triển DNNVV. Đối chiếu với Nghị định 90/2001, Nghị định 56/2009 có những điểm mới trong định nghĩa DNNVV. Cụ thể, điều 3 của Nghị định định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân hàng năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.2 Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế Lĩnh vực DN siêu DN nhỏ DN vừa kinh doanh nhỏ Số lao Tổng vốn Số lao Tổng vốn Số lao động (tỷ đồng) động (tỷ đồng) động (người) (người) (người) I. Nông, lâm nghiệp < 10 < 20 11- 200 20- 100 201- 300 và thủy sản II.
Công nghiệp và < 10 < 20 11- 200 20- 100 201- 300 xây dựng III. Thương mại và < 10 < 10 11- 50 10- 50 51- 100 dịch vụ Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ- CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV 1.2 Đặc điểm, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế 1.1 Đặc điểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Các DNNVV ở Việt Nam có các đặc điểm sau: Thứ nhất, quy mô nhỏ, ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo không lớn, thường hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, dung lượng thị trường lớn, nên huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân, tận dụng được các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ. Thứ hai, nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất thường không được coi trọng về mặt chất lượng, tuổi đời.
Thứ ba, số lượng và chất lượng lao động trong DNNVV thấp. Đặc biệt trong các DN nhỏ, nhân công thường là người trong gia đình, giám đốc thường đảm nhiệm cả vai trò điều hành, nhân sự, marketing,.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, DNNVV luôn là nền tảng của nền kinh tế, thường chiếm 90% số lượng doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho 50-70% lực lượng lao động, đóng góp từ 25-33% giá trị GDP hàng năm. Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, các doanh nghiệp này chiếm tới 98% tổng số các doanh nghiệp, tạo ra 60% việc làm của khu vực kinh tế tư nhân, 50% doanh số hay giá trị gia tăng, đóng góp 30% giá trị xuất khẩu trực tiếp. Nhật Bản có khoảng gần 5 triệu DNNVV, chiếm tới 99,7% số doanh nghiệp của cả nước.
Sau chiến tranh, Chính phủ Nhật Bản đã coi các doanh nghiệp này là công cụ đắc lực cho việc tái thiết nền kinh tế. Tại Trung Quốc, tổng số DNNVV là 39,8 triệu, chiếm 99% các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và 48,5% tổng số vốn kinh doanh. Có thể nói, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế là không thể phủ nhận. Trương Quang Thông, DNNVV có vai trò sau: Thứ nhất, tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Trong điều kiện ở các nước đang phát triển, như Việt Nam hiện nay, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề kinh tế- xã hội cấp bách, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Thứ hai, đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp đáng kể vào thu ngân sách nhà nước, và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Thứ ba, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phân công lao động giữa các vùng- địa phương. Sự phát triển của các DNNVV có thể góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong một nước, thu hút được ngày càng nhiều lao động ở nông thôn đồng thời một số lượng lớn lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm, lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp và đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia.
Thứ tư, góp phần đào tạo lực lượng lao động cơ động, linh hoạt và có chất lượng: các DNNVV có thể tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực. Một bộ phận lớn lao động trong nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm có thể được thu hút vào các DNNVV, để thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp và một số ngành dịch vụ liên quan. Ngoài ra, DNNVV có một số đóng góp khác như: góp phần tạo môi trường kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy được tiềm lực trong nước trong điều kiện nền kinh tế có xuất phát điểm với nguồn vốn thấp, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ kỹ năng của lao động còn yếu, góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng, miền trong một quốc gia. Với sự tạo lập dễ dàng, DNNVV có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ và tạo ra những sản phẩm phong phú, đa dạng, đồng thời tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong mỗi nước, góp phần tích cực trong khâu phân phối hàng hóa, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và bình ổn giá cả giữa vùng và các địa phương.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNVV Theo Trần Thanh Toàn (2009), những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNVV bao gồm: 1.
Nhóm yếu tố bên ngoài DNNVV, bao gồm: 1.1 Môi trường chính trị và pháp luật: bao gồm các đường lối, chính sách, chủ trương và một hệ thống pháp luật của quốc gia. Đường lối, chủ trương phát triển DNNVV ở nước ta, những chuẩn tắc cơ bản về những phương hướng nhiệm vụ, phương thức tổ chức thực hiện về phát triển DNNVV trong từng thời kỳ cụ thể do Đảng và Nhà nước vạch ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Chính sách là các phương tiện được xây dựng nhằm đạt được những mục tiêu phát triển DNNVV. Nội dung chính sách phát triển DNNVV bao gồm các qui tắc, thủ tục, hướng dẫn được thiết lập để hỗ trợ cho các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu phát triển DNNVV mà chính sách đã đề ra.
Các chính sách thường được đề ra dưới hình thức các hoạt động như chính sách hỗ trợ vốn đối với DNNVV của ngân hàng,. Môi trường chính trị nước ta khá ổn định và bền vững. Nhà nước có đường lối, chủ trương duy trì sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, có chính sách đầu tư thông thoáng đã tạo ra những thuận lợi thu hút lòng tin và vốn đầu tư của các nhà đầu tư để tiếp tục phát triển DNNVV trên mọi miền đất nước. Các chính sách của Nhà nước như chính sách kích cầu, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách cải cách tiền lương, cải cách thủ tục hành chính, tạo công ăn việc làm.tất cả những yếu tố này có tác động thuận lợi đến việc kích thích sản xuất để DNNVV phát triển.