CHƯƠNG I: VỐN NHÂN LỰC - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VAN DE I. Vai tro của vốn nhân lực trong nền kinh tế thi trường. Khái niém vốn nhân lực. Theo nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992, Gary Baker thì sự đầu tư vào con người sẽ tạo ra thu nhập trong tương lai và ông cho rằng: "Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân luc".
Các công trình nghiên cứu gần đây của ngân hàng thế giới tính rằng tỷ lệ thu hồi vốn của đại học là 14% trong khi đó tỷ lệ thu hồi vốn cho đầu tư vật chất là 13% và chỉ ra rằng ở một số nước đạt thành công trong phát triển kinh tế như: Nhat bản, Xingapo, Héng Kông , Đài Loan, Hàn Quốc thì việc đầu tư vào vốn nhân lực có một ý nghĩa rất quan trọng. Vậy vốn nhàn lực là gì? Ta có thể hiểu vốn nhân lực như sau: vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao đông tích luy được, đó là trình độ học vấn, trình độ tay nghề và kinh nghiệm làm việc cho phép người lao động đạt năng suất cao hơn, hiệu qua hơn, chính vì vậy nó được đánh giá cao vi có tiém năng đem lại thu nhập cao cho người lao động. Cũng như vốn vật chất như công xưởng, máy móc. Vốn nhân luc là kết qua của đầu tu trong quá khứ với múc đích tạo ra thu nhập trong tương lai.
Nội dung đầu tư vào vốn con người bao gỏm nhiều mặt như y tế dinh đưỡng, giáo dục và đào tạo. Ngoài ra còn có thể kể đến cả những đầu tư nhằm vào thói quen, tác phong làm việc và ý thức kỷ luật. Song quan trọng nhất là cải tạo ra trình độ học vấn, tay nghề chính là đầu tư vào giáo dục. Và vì vậy người ta coi giáo dục như là bộ lọc để chọn những công nhân có nhiều khả nang và tiềm năng :nghẻ nghiệp lớn, các bằng cấp đã có trong quá khứ có thể phát tín hiệu cho biết trình độ của người công nhân.
Tất nhiên trên thực tế cũng có những trường hợp những người được đào tạo cao, kỹ càng lại không mang lại năng suất lao động cao và ngược lại.Điều đó được giải thích rang kỹ năng nghề nghiệp tạo ra nang suất lao dong cao hay khong còn phụ thuộc kha năng bẩm sinh của mỏi con người. Dĩ nhiên đó chỉ là những trường hợp cá biệt khong phổ biến. Còn đối với đại đa số thì vốn nhân lực là cái quyết định mang lại năng suất lao động cao dẫn tới thu nhập cao. Vì vậy việc đầu tư cho vốn nhân lực là vấn đề được các cá nhân người lao động cũng như toàn xã hội quan tâm.
Đối với các cá nhân người ta đầu tư cho vốn nhân lực vì cho rằng làm như vậy người ta sẽ có được thu nhập cao hơn trong tương lai, dễ kiếm việc làm hơn so với những người không đầu tư hoặc đầu tư ít, hoặc một công việc dễ chịu hơn, phù hợp hơn trong tương lai. Và cuối cùng vấn dé còn lại là người lao độn phải quyết định đầu tư ở mức nào trong việc nâng cao năng suất lao động của mình để có thu nhập cao bởi vì, cũng không phải cứ đầu tư càng nhiều vào vốn nhân lực càng nhận được thu nhập cao vì còn phụ thuộc vào tuổi tác và nhiều vấn có liên quan mà ta sẽ đề cập đến ở các phần sau của đề tài. Vai trò của von nhân luc trong nên kính tế: Thế giới ngày nay đang ở trong giai đoạn phát triển với tốc độ cao, cùng với sự phát triển nhanh là sự chuyển dịch của nền kinh tế thế giới dựa vào nguồn tài nguyên có hạn của trái đất sang nền kinh tế dựa vào trí tuệ của con người. Hay nói cách khác con người đang trở thành vấn đề trung tâm của thời đại, chất xám, trí tuệ của con .người đang trở thành động lực trực tiếp của quá trình phát triển.
Có thể nói trước kia nền kinh tế thế giới phát triển tốt chủ yếu ở các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Song nguồn vốn có hạn của thiên nhiên đang bị con người khai thác dần đến cạn kiệt.Hơn nữa các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, cơ sở vật chất và tiềm lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ khả năng khai thác chúng. Chính vì vậy mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới con người vốn con người đã và đang được đặt vào vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Thế giới ngày nay đang chứng kiến những sự biến đổi nhanh chóng trong lịch sử phát triển của mình.Đặc biệt trong giai đoạn gần đây nhìn từ góc độ toàn cầu cũng như mỗi quốc gia cơ cấu kinh tế đang được cấu trúc sắp xếp lại dựa trên những lợi thế của nguồn lực cơn người với hàm lượng trí tuệ ngày một gia tăng.
Nhờ tiến bộ cua khoa học kỹ thuật và công nghệ do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà phần tỷ lệ lao động chan tay trong sản phẩm ngày mot giảm đáng kể. Nếu những năm đầu của thế ky XX tỷ lệ này là 9/10 thi vào những nam 90, phần tỷ lệ đó đã giảm xuống chi còn 1/5 nhưng khối lượng sản phẩm đạt được đã tăng gấp 50 lần so với 80 năm về trước, và theo dự báo đến năm 2010 phần tỷ lệ lao động chân 10 tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10 '#€” Đó là quá trình dịch ichu yển từ đ ộ n g c o b ắ p s aều trí tuệ n g c ơ c h ế d ù n g n h cơ c h ế d ù n g n h i ề u s ứ c l a o để sản xuất sản phẩm. Trong thập niên 90 này xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngày một gia tăng, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang cuốn hút các nước ở các mức độ khác nhau vào cuộc chạy đua mà thực chất là chạy đua về tri thức, trí tuệ. Chính cuộc cạnh tranh trí tuệ đó đã dẫn tới làm thay đổi nhiều mối quan hệ của đời sống xã hội,và nó cũng chính là lời giải đáp cho câu hỏi ai thắng ai trong cuộc đua tranh đó.
Như vậy sức mạnh trí tuệ của người lao động đã và đang trở thành một nhân tố quyết định việc hiện đại hoá của lực lượng sản xuất, khi nghiên cứu một nước. người ta có thể căn cứ vào số lượng lao động có trinh độ ở nước đó để đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. O các nước cong nghiệp phát triển so lượng công nhân có trình độ trung học, cao dang và đại học ngày một cao. ở Nhật Bản nam 1985 số người lao động có trình độ trung học chiếm 55%, trình độ cao đẳng và đại học chiếm 33% trong tổng số lao dong.
Đặc biệt trong một số ngành như thong tin, điện tử, vũ trụ. ty lệ đó còn cao hơn "061, Lịch sử quá trình công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy Châu Âu tiến hành công nghiệp hoá phải mất 100 năm. Các nước Nics rút ngắn xuống còn 50 năm. Nhật Bản, Hồng Kông, Xingapo, Hàn Quốc thành công nhanh chóng trong phát triển kinh tế là do họ có đội ngũ 11 trí thức có khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến, áp dụng có hiệu quả ở nước họ.
Kinh nghiệm còn cho thấy nếu một nước có xuất phát điểm với một nền kinh tế nghèo nàn,thì muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước họ chỉ có một con đường duy nhất -là chuyển nhanh sang xã hội có học vấn cao. Hay nói cách khác nếu chỉ có lực lượng lao động đông sẽ không thể tiến hành phát triển kinh tế dất nước, tiến hành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được mà phải có đội ngũ đông đão lao động có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tiếp nhận công nghệ tiến tiến, cái tiến và sử dụng có hiệu quả. Con người đã trở thành yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển,do vậy trong giai đoạn hiện nay việc giải quyết hài hoà các yếu tố cung và cầu về vốn nhân lực có liên quan đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Cơ chế nối liền hai yếu tố cung và cầu về vốn nhân lực là tiền công được trả cho người lao động .Thu nhập đó đầu tư trở lại cho cơn người để nàng cao mức sống.
Sự đầu tư cho con người nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của ca xã hội và tạo kha năng nâng cao năng suất lao động, tăng nhanh tốc độ tăng trưởng của nẻn kinh tế. Các nhà nghiên cứu cho rằng chỉ có thể đạt được tang trưởng kinh tế cao trong trường hop dau tư vào nguồn nhân lực và dau tư có hiệu quả nhất là đầu tư cho giáo đục. Tốc độ tang trưởng kinh tế cao, bền vững dat được ở Hồng Cong, Malaixia, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan là nhờ vào chiến lược phát triển nguỏn nhân lực trong 12 một,hai thập ky vừa qua. O những nước này nước nào su phát triển nguồn nhân lực càng sớm thì sự tăng trưởng kinh tế càng nhanh.
Sự phân tích tình hình cu thể từng nước cho thấy tỷ lệ đầu tư ngân sách cho phát triển nguồn nhân lực rất khác nhau,diéu đó kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước cũng khác nhau. Ví dụ: Cuối thập ‘ky 80 tỷ lệ ngân sách đầu tr cho giáo dục của Xingapo là 20,8%, ‘Han Quốc 20,1%, Hồng Kông 16%, Thai Lan 17%, Philippin 13,1%, An Do là 2,7%, Việt Nam 2,5% 77). Tăng cường vốn nhân lực cho lực lượng lao động hay nói cách khác trí tuệ hoá lao động đang là xu hướng phát triển của thế giới ngày nay. Việt Nam là một nước thành viên của thế giới nên cũng không nằm ngoài quá trình đó, tuy nhiên xuất phát điểm của Việt Nam hiện nay đang ở mức rất thấp: nẻn kinh tế nghéo nàn lạc hậu, dân đông, thu nhập bình quân đầu người thấp.
Làm thế nào để thoát khỏi được nghèo nàn lạc hậu đưa đất nước tiến lên? đó là câu hoi đang làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách cũng như Đảng cộng san và nhà nước Việt Nam. Câu tra lời chấc chắn khong nam ngoài vấn đề đầu tư cho giáo dục.