Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC 1. KHÁI NIỆM KINH TẾ TRI THỨC 1. Khái niệm tri thức 1. Định nghĩa, phân loại Tri thức có thể được định nghĩa trong sự phân biệt với thông tin và dữ liệu: - Dữ liệu là các sự kiện không cấu trúc hóa, không mang theo ý nghĩa, ngoài ngữ cảnh hay một tập hợp các hình thức cụ thể như con số, chữ, tiếng động, hình ảnh cho phép có thể rút ra thông tin.
- Thông tin là các dữ liệu đã được tổ chức, xử lý, có mục đích nhưng chưa được đồng hóa. - Tri thức là một khối lượng thông tin đã được xử lý, đồng hóa, đưa vào sự nhận thức của cá nhân. Mức độ tinh vi của xử lý thông Tri tin (nghĩa rộng) thức Thông tin ẹ Dữ liệu Nói một cách ngắn gọn thì thông tin ( theo nghĩa hẹp ) là dữ liệu đã được xử lý đến mức độ nào đó. Tri thức là thông tin được chế biến ở mức độ cao hơn.
Ví dụ như: quan sát các hiện tượng thời tiết ( dữ liệu ) người ta biết 7 được có mưa ( thông tin ) và mưa có ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật ( tri thức ). Tuy nhiên, sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối. Nó có thể thay đổi theo thời gian hoặc khi áp dụng vào những đối tượng cụ thể tùy theo sự hiểu biết của mỗi người: thông tin đối với người này chỉ có thể là dữ liệu đối với người khác, và lại có thể là tri thức đối với người khác nữa. Sự phân biệt thông tin và tri thức còn được xem xét trên cơ sở khả năng chuyển giao.
Thông tin được được xem là cái sẵn sàng để chuyển giao, còn tri thức bao gồm nhiều loại. Một số có thể điển chế hóa và do đó có thể biến đổi thành thông tin để chuyển giao. Một số tri thức khác không điển chế hóa được chỉ có thể thu nhận được nhờ quá trình học hỏi. Hai loại tri thức theo sự phân biệt như vậy được gọi là tri thức hiện ( explicit knowledge ) và tri thức ngầm ( tatic knowledge ).
Tri thức ngầm không thể điển chế hóa được hoàn toàn nên khó có thể chuyển giao không phải do có tính chất trực giác mà vì trong quá trình hoạt động những yếu tố của tri thức ngầm mới lại liên tục xuất hiện. Tuy vậy nó lại có một vai trò quan trọng và là công cụ để lựa chọn và khai thác tri thức điển chế hóa mà ngày nay tương đối dễ có và rẻ hơn rất nhiều. Điển chế hóa là biến đổi một loại tri thức ngầm cụ thể thành một loại dễ hiểu hơn song vẫn còn ngầm ở một mức độ nào đó. Trong một số tài liệu, điển chế hóa tri thức được mô tả như một qui trình lấy thông tin từ các tác nhân con người, cố gắng phát biểu nó một cách rõ ràng, sau đó cấu trúc lại để làm giảm sự phức tạp sao cho có thể đưa vào vật thể vật chất hay mô tả trên giấy.
Nói cách khác, điển chế hóa là chuyển tri thức thành mã để nó trở nên có dạng hiện, có thể tiếp cận và dễ dàng hiểu được ở mức độ cao nhất. Nhờ vậy tri thức điển chế hóa có thể được chuyển giao vượt qua không gian và thời gian. Ở khía cạnh kinh tế, điển chế hóa có ý nghĩa rất to lớn khi nó cho phép giảm bớt tình trạng phân tán của tri thức, cũng như các khoản chi phí để tự tìm ra nó. Cuộc cách mạng kỹ thuật số và những thành tựu vượt bậc của 8 công nghệ thông tin đã thúc đẩy nhanh quá trình điển chế hóa tri thức.
Các mạng lưới điện tử ngày nay đã nối liền một tập hợp lớn các nguồn thông tin công cộng và tư nhân tạo nên những yếu tố rất đa dạng của một thư viện số mà mọi người có thể truy nhập. Tri thức ngày càng gần như một hàng hóa, các cuộc giao dịch trên thị trường đã trở nên dễ dàng, việc truyền tri thức tăng nhanh. Tuy nhiên trong thực tế tri thức luôn tồn tại là một tổ hợp của hai dạng ngầm và hiện. Chúng có thể biến đổi liên tục từ dạng này sang dạng kia thông qua quá trình học hỏi – học bằng làm, học bằng sử dụng, học để học.
Do đó nhiều học giả cho rằng nền kinh tế và xã hội trong tương lai là “nền kinh tế học hỏi” và “ xã hội học tập” bởi vì tri thức ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự tiến bộ và phát triển của xã hội loài người là do kết quả hội tụ của nhiều quá trình tiến triển riêng rẽ và độc lập trong đó có sự thay đổi căn bản về ý nghĩa của tri thức. Tri thức theo cách hiểu của thời kỳ cổ đại là một thứ chung chung, chỉ phục vụ cho chính nó. Mục đích là làm cho con người có tri thức có thể hiểu được cái gì cần phải nói và làm thế nào để nói chúng.
Khi đó tri thức có nghĩa là logic, ngữ pháp và hùng biện và hoàn toàn tách rời kỹ thuật. Bởi vì theo quan niệm thời đó, kỹ thuật gắn liền với ứng dụng đặc biệt và không có những nguyên tắc áp dụng chung, chỉ có thể thu nhận qua kinh nghiệm, không thể dạy và học được. Tiếp theo đó đã có sự chuyển hóa căn bản về mặt ý nghĩa của tri thức. Trong giai đoạn đầu, tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp.
Trong giai đoạn thứ hai, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động dẫn tới cuộc cách mạng năng suất gắn liền với tên tuổi của F. Giai đoạn cuối cùng tri thức được áp dụng cho chính bản thân nó, đó chính là dùng tri thức để tạo ra tri thức làm nên cuộc cách mạng quản lý, bước chuyển biến tới nền kinh tế tri 9 thức. Ngày nay quan niệm tri thức là những hệ thống kiến thức chuyên sâu, thể hiện được trong hành động và trở thành các bộ môn chuyên ngành. Mỗi một bộ môn chuyên ngành sẽ chuyển từng bí quyết thành phương pháp luận.
Mỗi phương pháp luận đó chuyển đổi những vấn đề riêng lẻ, kinh nghiệm thành hệ thống do đó có thể dạy và học được. Bước chuyển từ đơn lên đa tri thức đã làm cho nó trở nên có sức mạnh sáng tạo nên một xã hội mới, làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Đây chính là sự thay đổi rất cơ bản về nhận thức của tri thức [28, 160-208]. Định nghĩa tri thức đang được sử dụng phổ biến hiện nay, đặc biệt là trong các tài liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD ) là “ Mọi hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới”.
Nó bao gồm biết cái gì? ( know what ), biết vì sao? ( know why ), biết làm thế nào? ( know how ), biết ai? ( know who ). Biết cái gì? còn bao gồm cả tri thức về thời gian và địa điểm ( know where và know when ). Trong nền kinh tế linh hoạt và năng động, tri thức về thời gian, địa điểm đang ngày càng quan trọng đảm bảo cho quá trình nhận thức, hành động được chính xác. Trong các loại tri thức trên thì tri thức về sự vật, sự kiện ( know what ) và nguyên nhân, giải thích ( know why ) thuộc nhóm hiện, có thể được thu nhận thông qua đọc tài liệu, truy nhập cơ sở dữ liệu.
Tri thức về cách làm ( know how ), về người biết ( know who ) thuộc nhóm ngầm và chỉ có được qua hoạt động, kinh nghiệm thực tế. Tri thức về cách làm, về người biết thường được phát triển, duy trì trong mỗi cá nhân, tổ chức riêng lẻ, không thể dễ dàng chuyển giao và có vai trò ngày càng lớn, nhất là trong những nền kinh tế mà các kỹ năng bị phân tán do sự phân công lao động. Đây chính là một lý do quan trọng để hình thành các mạng lưới doanh nghiệp và tổ chức nhằm kết hợp và chia sẻ những tri thức này. Đặc điểm của tri thức Với quan niệm mới về ý nghĩa, tri thức đã trở thành một nhân tố sản xuất mà tầm quan trọng ngày càng tăng của nó làm giảm vai trò của vốn và lao động.
Nó có thể được sinh ra, trao đổi và sử dụng trong các phương thức sản xuất để tạo ra các loại sản phẩm. Tuy nhiên nó có một số đặc điểm riêng khác với các tư liệu sản xuất khác. Thứ nhất, tri thức nói chung và khoa học, kỹ thuật, công nghệ nói riêng có một đặc điểm nổi bật là khi đã được phát hiện, phát minh, sáng chế ra nó có thể trở thành nền tảng cho các kỹ thuật, công nghệ khác ra đời, phát triển. Ngày nay sự gia tăng và đổi mới, thay thế giữa những thế hệ tri thức diễn ra thường xuyên, nhanh chóng.
Những tri thức mới thường là sự liên kết, tích hợp giữa các dòng tri thức khác nhau. Ví dụ như khoa học công nghệ viễn thông ngày nay là sự hội tụ các lĩnh lực trước đây tồn tại độc lập như truyền dẫn vô tuyến tín hiệu thoại, truyền dẫn hữu tuyến tín hiệu truyền hình, truyền hình cáp, truyền số liệu, Internet, vệ tinh và vô tuyến nhiều kênh. Thứ hai, mức độ lan truyền về không gian và thời gian của tri thức được mở rộng và đẩy mạnh nhờ khả năng hệ thống hóa của chúng. Ngày càng nhiều khối lượng tri thức có thể giản đơn hóa, đồng nhất hóa, tiêu chuẩn hóa.
thành những thông tin rõ ràng, ngắn gọn, dễ dàng cho việc truyền tải, lưu trữ và tái tạo. Thứ ba, tri thức có nhiều đặc tính cơ bản của một hàng hóa công cộng, thực chất là một hàng hóa công cộng toàn cầu: - Không có tính cạnh tranh. Một người sử dụng một khối lượng tri thức nhất định không ảnh hưởng đến việc những người khác cũng sử dụng những khối lượng tri thức đó. Thomas Jefferson đã mô tả tính chất không có cạnh tranh của tri thức và thông tin theo cách dưới đây: “ Ông ta là người 11 nhận được ý tưởng ở tôi, tự mình đã nhận được kiến thức mà không làm giảm kiến thức của tôi; vì ông là người châm dây thắp nến ở chỗ của tôi, đã nhận được ánh sáng mà không làm cho tôi bị tối đi” [17, 32].
- Không có tính loại trừ. Khi tri thức đã ở trong lĩnh vực công cộng thì người tạo ra tri thức đó rất khó ngăn không cho người khác dùng.