Chương 1: Những vấn đề chung về phân phối thu nhập. - Chương 2: Thực trạng phân phối thu nhập ở Malaixia từ thập kỷ 70 đến nay. 6 - Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của Malaixia trong việc giải quyết vấn đề phân phối thu nhập ở Việt Nam. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP 1.
Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trƣờng. Phân phối thu nhập là quá trình phân chia những thành quả của tăng trưởng kinh tế đến các tầng lớp dân cư trong xã hội. Phân phối thu nhập được phân biệt bằng hai cách: phân phối thu nhập theo qui mô hay mức độ (theo nhóm thu nhập) và phân phối thu nhập theo chức năng. Phân phối thu nhập theo chức năng hay "phân phối theo tỷ phần nhân tố" nhằm giải thích tỷ phần trong tổng thu nhập quốc dân mà mỗi nhân tố sản xuất nhận được.
Thay vì việc xem xét các cá nhân như những thực thể riêng rẽ, lý thuyết đo lường bằng phương pháp chức năng giải thích giá cả mà thu nhập quốc dân trả cho các chủ sở hữu các nhân tố sản xuất: tiền cho thuê đối với việc sử dụng đất đai, tiền công cho lao động, lợi tức trả cho người sở hữu vốn và lợi nhuận trả cho các xí nghiệp. Mặc dù các cá nhân có thể có được thu nhập từ các nguồn này nhưng điều đó không thuộc diện quan tâm của phương pháp chức năng. Do vậy, các đường cung và đường cầu được giả định sẽ quyết định giá cả của mỗi nhân tố sản xuất. Khi đơn giá này được nhân lên với khối lượng sử dụng (giả định là sử dụng nhân tố có hiệu quả), người ta có thể đo được tổng các khoản thanh toán cho mỗi nhân tố.
Phương 7 pháp chức năng đặc biệt nghiên cứu những ảnh hưởng mà nó quyết định giá cả các nhân tố trong những điều kiện thị trường khác nhau. Phân phối thu nhập theo qui mô hay theo nhóm thu nhập được đo lường bằng thu nhập của các cá nhân hay hộ gia đình nhận được trong tổng thu nhập. Việc thu nhập đó có được bằng cách nào thì không được xem xét. Vấn đề được đặt ra ở đây là mỗi cá nhân hay hộ gia đình nhận được bao nhiêu bất chấp thu nhập đó thuần tuý do lao động mà ra hay từ các nguồn khác như lợi tức, lợi nhuận, tiền cho thuê, quà tặng, thừa kế…Phân phối thu nhập theo qui mô cũng không tính đến nguồn gốc địa điểm (thành thị, nông thôn) hay ngành nghề (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…).
Các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức độ thu nhập tăng và chia tổng dân số thành các nhóm khác nhau. Thông thường dân số một nước được chia thành 5 nhóm hoặc 10 nhóm kế tiếp nhau theo mức độ thu nhập tăng dần và xác định xem mỗi nhóm thu nhập sẽ nhận một tỷ lệ như thế nào trong tổng thu nhập quốc dân. Giữa phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối thu nhập theo qui mô đều có những điểm giống và khác nhau. Xét theo tiến trình, cả hai phương pháp phân phối thu nhập này đều là sự phân phối kết quả của hoạt động sản xuất, do đó phân phối thu nhập do tăng trưởng kinh tế quyết định.
Điểm khác nhau căn bản của hai phương pháp ở chỗ, trong khi phương pháp chức năng chú trọng đến phân phối dựa trên sự đóng góp của các nhân tố sản xuất thì phương pháp qui mô lại chú ý đến tỷ lệ thu nhập của các nhóm dân cư trong tổng thu nhập. Về định lượng, trong các thống kê và chỉ số kinh tế, người ta không cho biết các nhân tố lao động, đất đai, vốn, doanh nghiệp nhận được bao nhiêu trong tổng thu nhập. Duy chỉ có một số ít thống kê xác định được tỷ lệ đóng góp của các nhân tố vốn, lao động và năng suất lao động đối với tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước. Việc nhận biết tỷ phần các nhân tố trong tổng thu nhập của phương pháp chức năng có thể được xem xét 8 thông qua mô hình kinh tế lượng hoặc được đánh giá thông qua phương pháp định tính.
Ví dụ, việc đánh giá có thể được thực hiện thông qua mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế và các chính sách phát triển khác. Trong nền kinh tế thị trường, phân phối thu nhập theo chức năng làm cho thu nhập trở nên hoàn toàn rõ ràng và phù hợp với những đóng góp của các nhân tố vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, lý thuyết phân phối thu nhập theo chức năng đã không tính đến vai trò quan trọng và ảnh hưởng của các yếu tố "phi thị trường" như vấn đề "quyền lực" trong việc xác định giá cả của các nhân tố. Ví dụ như quyền lực của các nhà tư bản và chủ đất chi phối giá cả của vốn, đất đai và sản lượng sao cho có lợi cho họ hay vai trò của thương lượng tập thể giữa giới chủ và công đoàn trong việc xác định mức lương của công nhân… Khác với phương pháp chức năng, kết quả của phân phối thu nhập khi đo lường bằng phương pháp qui mô lại có những thống kê và định lượng rõ ràng thông qua những cuộc điều tra xã hội học và tính toán của các cơ quan thống kê các nước.
Vì vậy, kết quả đo lường của phân phối thu nhập theo qui mô thường dược sử dụng nhiều hơn để chỉ ra tính chất, đặc điểm của phân phối thu nhập: bình đẳng hay bất bình đẳng, công bằng hay bất công. Thông qua sự biến động của các chỉ số, có thể đánh giá được vai trò và hiệu quả của các chính sách tác động của nhà nước đối với phân phối thu nhập. Quan niệm về công bằng: Liên quan đến vấn đề nêu trên, chúng ta cần đi sâu tìm hiểu khái niệm công bằng, bình đẳng và các quan niệm khác nhau về vấn đề này. Công bằng xã hội trong phân phối thu nhập là một khái niệm mang tính chuẩn tắc nghĩa là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi người.
Chính những quan niệm khác nhau về bình đẳng cũng dẫn đến những quan niệm khác nhau về công bằng. Trong kinh tế học, có hai cách hiểu khác nhau về công bằng, đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. 9 Công bằng theo chiều ngang là đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau. Theo đó, nhà nước sẽ đối xử như nhau đối với những người có mức độ đóng góp như nhau trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất (công bằng theo chức năng).
Mặt khác, chính sách của chính phủ cũng không phân biệt đối xử đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau xét theo một tiêu thức cụ thể nào đó như thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc… Công bằng theo chiều dọc là đối xử khác nhau đối với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu, điều kiện xã hội khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có. Như vậy, công bằng theo chiều ngang hoàn toàn được thực hiện bởi cơ chế thị trường, nghĩa là công bằng được dựa trên phương thức phân phối thu nhập theo chức năng. Trong khi đó, công bằng theo chiều dọc đòi hỏi phải có sự điều tiết của nhà nước thông qua chính sách phân phối lại. Chính phủ thực hiện các chính sách công bằng theo chiều dọc nhằm giảm sự chênh lệch và khác biệt về thu nhập cũng như phúc lợi giữa các cá nhân trong xã hội.
Điều này được thể hiện rõ nhất trong các chính sách thuế thu nhập, thuế tài sản luỹ tiến và trợ cấp cho những người yếu thế trong xã hội như người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tật…hoặc thông qua các chính sách phúc lợi công cộng. Về mặt nhận thức, việc phân biệt công bằng theo chiều dọc và theo chiều ngang là rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc áp dụng tiêu chuẩn này gặp phải không ít khó khăn. Ví dụ, việc xác định thế nào là tình trạng kinh tế như nhau giữa các cá nhân và hộ gia đình là việc rất khó do sự khác biệt về qui mô hộ gia đình, điều kiện địa lý sinh sống… Hơn nữa, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng và rất hoàn chỉnh bao gồm cả các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá.
Điều này khiến cho việc nghiên cứu công bằng xã hội trở thành một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi. Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra một khái niệm công bằng xã hội trong phân phối thu nhập. Công bằng ở đây không có nghĩa mọi 10 thành quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội được chia đều cho mọi người. Điều này sẽ không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn, phát triển sản xuất, làm triệt tiêu động lực phát triển của xã hội.
Công bằng ở đây phải được hiểu là việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi nhóm dân cư trong xã hội được tiếp cận bình đẳng với các cơ hội giáo dục, cơ hội việc làm, cơ hội tham gia đầu tư kinh doanh. Cho đến nay, để biểu đạt mức độ công bằng hay bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, người ta vẫn thường sử dụng các cách đo lường rất khác nhau. Các thƣớc đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Để xác định xem liệu phân phối thu nhập của một nước có công bằng hay không, các nhà kinh tế thường sử dụng các phương pháp đo lường bất bình đẳng.
Việc đo lường và tính toán dựa trên thu nhập hay chi tiêu bình quân của các cá nhân hay hộ gia đình (thông thường trong khoảng thời gian một năm) và việc phân phối mức thu nhập và chi tiêu đó. Về cơ bản có nhiều loại thước đo bất bình đẳng khác nhau, dưới đây là một số thước đo chủ yếu. Đường cong Lorenz: Một trong những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng thu nhập được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học là đường cong Lorenz, mang tên nhà bác học nêu lên học thuyết này (Coral Lorenz). Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông mà cạnh bên biểu thị tỷ lệ phần trăm giá trị cộng dồn của thu nhập và cạnh đáy biểu thị phần trăm dân số cộng dồn của các nhóm dân cư được sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần.
Việc xây dựng đường Lorenz được tiến hành qua các bước như sau: Bước 1: sắp xếp thu nhập dân cư theo thứ tự tăng dần. 11 Bước 2: chia dân số thành các nhóm có số dân bằng nhau.