CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CỦA S. FREUD VỀ VÔ THỨC 1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA S. FREUD VỀ VÔ THỨC.
Tiền đề khoa học Khoa học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã phát triển như vũ bão cả về số lượng lẫn chất lượng, đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Sự xuất hiện của phân tâm học cũng được chuẩn bị bởi những thành tựu của khoa học tự nhiên. Trước hết, S. Freud thừa nhận ông xuất phát từ quan điểm sinh vật học để xem xét khuynh hướng và bản tính của con người, đây là quan điểm được Darwin nêu lên trong học thuyết tiến hóa của mình.
Ông chứng minh rằng các loài đang tồn tại hiện nay là sinh ra từ các loài khác bằng con đường tự nhiên. Sự biến đổi các loài diễn ra nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Ông cũng cho rằng loài người cũng chịu ảnh hưởng tác động của các sức mạnh sinh học, đặc biệt là khẳ năng duy trì nòi giống và bản năng tìm kiếm thức ăn. Theo ông chính những bản năng này là nền tảng của mọi hành vi.
Như vậy có thể thấy rằng, Darwin đã đề cao vai trò của tính dục trong động lực của hành vi con người, đồng thời chỉ ra ham muốn thỏa mãn tính dục và tự vệ chính là hai bản năng duy nhất trong lĩnh vực tâm lý của con người. Darwin cũng đưa ra những quan điểm như: Quan niệm về các quá trình và xung đột vô thức trong tâm lý, về vai trò của giấc mơ và biểu tượng ẩn giấu của một số triệu chứng hành vi, về ý nghĩa hưng phấn của tính dục và khía cạnh bất hợp lý của hành vi và tâm lý. Chính những tư tưởng trên sau này đã trở thành nền tảng của phân tâm học. Người có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của học thuyết vô thức của S.
Giống như Harbart, ông đã sử dụng khái niệm ngưỡng. Hình ảnh tâm lý như tảng băng trôi mà G. Fexner đã nêu ảnh hưởng Luan van 9 mạnh đến S. Fexner cho rằng giống như tảng băng trôi, phần lớn hoạt động tâm lý được giấu dưới cái vỏ ý thức và chịu sự tác động của những sức mạnh không nhìn thấy được.
Một số luận điểm quan trọng trong học thuyết của S. Freud như: nguyên tắc thỏa mãn, khái niệm năng lượng tâm lý, tính xâm kích… ban đầu được lấy từ những tác phẩm của G. Trong lý luận về xung năng vô thức, S. Freud đã sử dụng khái niệm “năng lượng và định luật bảo toàn năng lượng” của trường phái Helmholz vào việc nghiên cứu tâm lý học.
Ông đã coi toàn bộ cơ thể của con người ở đây giống như một hệ thống năng lượng cơ giới, như năng lượng điện, hóa học biểu hiện bằng các hình thức sinh lý và năng lượng tâm lý, chủ yếu là năng lượng “Libido”. Những năng lượng này không mất đi, có thể chuyển hóa cho nhau và luôn được phân phối, đầu tư vào các hành vi nhất định. Trong đó ông đã coi trọng và nhấn mạnh năng lượng tâm lý và cho rằng đây là một loại năng lượng liên hệ gắn liền với tính bản năng. Ngoài ra tư tưởng của S.
Freud còn chịu ảnh hưởng bởi thuyết đơn tử của Leibniz cho rằng: Tất cả các yếu tố cá biệt của hiện thực – đơn tử. Không phải là nguyên tử vật lý, thậm chí cũng không phải vật chất với ý nghĩa thông thường. Mỗi đơn tử là một loại thực thể tinh thần có quãng điện phi thường. Như vậy, theo quan điểm của Leibniz đơn tử là những nguyên tố đơn nhất của hiện thực.
Mỗi đơn tử là một bản thể tâm lý không có độ dài. Mặc dù chúng có nguồn gốc tâm lý nhưng đồng thời chúng cũng có một số đặc tính của vật chất vật lý. Khi đủ số lượng đơn tử nhất định, chúng liên kết với nhau tạo thành những vật thể có độ dài. Ở đây có thể thấy rằng các đơn tử có tính tích cực trong các hành động tâm lý với các mức độ ý thức khác nhau: từ hầu như hoàn toàn vô thức đến ý thức một cách rõ ràng, sâu sắc.
Mức độ thấp nhất của ý thức là những cảm nhận nhỏ bé, sự thực hiện ý thức của chúng có tên gọi là tổng giác. Luan van 10 Những quan điểm trên của Leibniz đã được Herbart phát triển thành học thuyết lý luận giới hạn ý thức. Ông cho rằng những quan điểm bị gạt xuống dưới giới hạn thường không được ý thức, gọi là vô thức. Khi những ý nghĩ đạt đến một mức độ ý thức thì nó được tổng giác.
Nhưng để đạt đến mức độ ý thức thì những tư tưởng này phải được so sánh đối chiếu với những ý tưởng đã nằm trong phạm vi ý thức. Những quan niệm bị loại ra khỏi ý thức trong quá trình xung đột đó là “quan niệm bị ức chế”. Như vậy, theo Herbart những ý tưởng khác nhau thường cạnh tranh nhau, xung đột nhau để được ý thức hóa. Điều này đã được S.
Freud giải thích khi đề cập tới quan hệ giữa ý thức và vô thức cá nhân. Freud cũng tiếp thu những đóng góp của A.Nietzsche về phương diện tâm lý học. Hai ông đã khẳng định rõ sự tồn tại của một thế giới vô thức trong mỗi con người, và thế giới vô thức này cũng góp mặt vào hoạt động sống của con người. Nhân tố kinh tế - xã hội và nghề nghiệp.
Freud sinh ra và lớn lên ở Viên, thủ đô nước Áo, là một trung tâm âm nhạc, lúc này Viên là trung tâm văn hóa của Châu Âu thế kỷ XIX, XX. Thành phố Viên lúc bấy giờ thực sự là một lò lửa sục sôi những mâu thuẫn kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng trí tuệ. Mâu thuẫn này thể hiện ở sự phát triển nhanh, trên quy mô lớn của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, với những phát minh vĩ đại về thiên văn học, vật lý, toán học, tiến hóa sinh giới, triết học… với sự cổ hủ, lạc hậu của hệ tư tưởng thống trị đương thời. Chính những mâu thuẫn này đã làm nảy sinh thói đạo đức giả và nạn cùng khổ về sự ức chế tính dục.
Chính điều này đã làm nảy sinh trào lưu chống lại đè nén tính dục trong xã hội khổ hạnh, biểu hiện là sự quan tâm đến đời sống tính dục trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, kể cả khoa học. Đây là thời kỳ xuất hiện những tiểu thuyết tình yêu thắm thiết và những cuộc ngoại tình, sự bùng nổ đam mê, nạn mại dâm và những ấn phẩm khiêu dâm lan tràn khắp Luan van 11 nơi. Chính sự bùng nổ này mà đã xuất hiện hàng loạt công trình về bệnh học tính dục, về tính dục trẻ em cũng như về ảnh hưởng của những dồn nén ham muốn tính dục đến sức khỏe tinh thần và thể chất của con người như: tác phẩm: “bệnh thái nhân cách về tính dục” xuất bản năm 1886 của Craff - Ebing. Hay công trình của nhà tâm lý học người Pháp Anred Bine về sự lệch lạc tính dục.
Bên cạnh đó, xã hội Châu Âu với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã làm thõa mãn những nhu cầu vật chất cho đời sống của con người, tuy nhiên nó cũng có mặt trái là hình thành lên những nỗi đau trong thân phận con người. Và có một sự thật là đời sống kinh tế càng được thỏa mãn bao nhiêu thì bệnh thần kinh càng xuất hiện nhiều. Vì vậy con người luôn tìm cách để làm giảm bớt nỗi đau của mình. Chính những điều này đã chuẩn bị cho việc nhận thức của S.
Freud và cho sự ra đời của phân tâm học. Khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời phân tâm học của S. Freud chúng ta không thể không nói đến dấu ấn đời sống riêng thời thơ ấu. Đời tư và thơ ấu của S.
Freud có nhiều sự kiện để lại dấu ấn không phai mờ và chúng đã trực tiếp góp phần vào việc hình thành phương pháp và lý luận phân tâm của ông sau này. Freud sinh ngày 6 - 5 - 1856 tại Freiberg, vùng Moravi (nay thuộc Cộng hòa Séc). Ông là con đầu của người vợ thứ ba một thương nhân do thái. Ông sống trong một gia đình với sự đối sử khắc nghiệt, gia trưởng của người cha vì vậy đối với cha, S.
Freud đan xen hai cảm giác lo sợ và yêu mến. Nhưng ngược lại, mẹ ông là người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng, nhanh nhẹn và chu đáo, hết lòng yêu thương ông. Chính nỗi sợ hãi đối với cha và những ham muốn tính dục đối với mẹ là những xúc cảm mà sau này S. Freud đã đưa vào trong nội dung học thuyết của mình.
Đó chính là mặc cảm “Odipe” và “Nỗi lo sợ phập phồng” – một nỗi sợ hãi mà theo ông đó chính là “những người đau khổ vì lo sợ người khác” [47, tr. Không những thế, Luan van 12 khi còn nhỏ, ông đã tận mắt chứng kiến cảnh cha mình bị làm nhục giữa ban ngày trên đường phố bởi một người Công giáo. Khi 3 tuổi mẹ có mang em gái, ông bị tách khỏi mẹ, được giao cho bà vú nuôi chăm sóc và đã chứng kiến việc bà vú nuôi bị người anh cùng cha đuổi khỏi nhà vì lý do lấy cắp. Những sự kiện trên đã làm tổn thương rất lớn trong tâm hồn cậu bé S.
Freud, tạo ra ám ảnh vô thức, mà mãi sau này, khi tự phân tâm, ông mới thoát ra được. Một nhân tố nữa ảnh hưởng đến sự ra đời của phân tâm học đó chính là xuất phát từ chính thực tiễn công việc chữa bệnh mà ông đang thực hiện. Freud sinh ra và lớn lên ở Viên, lúc này là trung tâm văn hóa của Châu Âu thế kỷ XIX – XX. Lúc này ở Viên rất nhạy cảm với đời sống tinh thần của con người.
Thời kỳ này cũng xuất hiện rất nhiều bệnh thần kinh, đây chính là lĩnh vực hoạt động chuyên môn trực tiếp của S. Ông nghiên cứu nguồn gốc và trị liệu các rối nhiễu tâm lý – lĩnh vực mà lịch sử chữa trị gặp rất nhiều sóng gió và phức tạp. Trước khi S. Freud nghiên cứu, trong đời sống nhân loại đã tồn tại bệnh tâm thần, rối loạn tâm lí, tuy nhiên quan niệm của từng giai đoạn là khác nhau.
Người Lưỡng Hà cổ đại xem những người bị rối loạn tâm thần là do bị quỷ ám. Vì vậy biện pháp của họ là cầu nguyện thần linh giúp đỡ bằng các phương pháp bùa chú và ma thuật.