phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm hai chương và triển khai trong bảy tiết. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH, NHỮNG TIỀN ĐỀ VÀ ĐẶC TRƢNG CỦA PHÂN TÂM HỌC FREUD 1. Bối cảnh ra đời Phân tâm học Freud Cuối thế kỷ XIX, nước Áo nói riêng và các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ý… nói chung đã thiết lập chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Mặc dù mới thiết lập nhưng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Nhưng đồng thời, sự phát triển của nền kinh tế cũng kéo theo mâu thuẫn gay gắt trong nhiều lĩnh vực như chính trị, triết học, tôn giáo… và đời sống xã hội lúc bấy giờ cũng trở nên căng thẳng hơn, nhạy cảm hơn. Trong một xã hội với phương thức sản xuất mới, những tư tưởng, cách nhìn chuẩn mực đạo đức mới cũng dần dần xuất hiện. Có thể nói, bầu không khí Tây Âu thời kỳ này đã xuất hiện những mâu thuẫn mới trong đời sống tinh thần; một bên là những quan niệm truyền thống với các tập tục, thành kiến của một xã hội thanh giáo bảo thủ, một bên là một xã hội sôi động với những quan niệm mới, những “chuẩn mực” mới.
Những người không kịp thích ứng với điều kiện xã hội mới như thích ứng với điều kiện làm việc, thích ứng với các quan niệm đạo đức xã hội mới, thích ứng với mối quan hệ xã hội mới… sẽ trở nên căng thẳng, thiếu tự tin trong cuộc sống, trong nếp nghĩ và nhất là bị “ám thị” với những cuộc tranh đấu giữa cái mới và cái cũ ngay trong suy nghĩ bản thân mình. Từ đó, những căn bệnh mới về tinh thần cũng có nguy cơ phát triển theo. Cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX là thời kỳ khoa học, kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn. Những thành tựu khoa học và kỹ thuật đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của thế giới và của con người.
Những công nghệ mới đã làm thay đổi triệt để thế giới của con 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người và bản thân tính chất của tồn tại người. Giá trị mà nền văn minh mới đem lại là không nhỏ, song mặt trái của nó cũng không phải là ít. Những hậu quả của cuộc cách mạng công nghệ là rất đa dạng. Quyền lực của kỹ thuật đặt ra vô số vấn đề gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyết.
Chỉ cần nhắc đến vấn đề nguy cơ chiến tranh hạt nhân và hiểm họa sinh thái là nhân loại ai cũng thấy rõ. Chúng chỉ là một phần của vô số vấn đề toàn cầu đang thật sự đe dọa sự tồn tại của loài người. Thực tế cho thấy những thành tựu khoa học- kỹ thuật thể hiện là nhân tố làm phức tạp hơn nữa bối cảnh tinh thần đang ngày càng trở nên phong phú và rối rắm hơn rất nhiều so với trước kia. Tiến bộ kỹ thuật được đặc trưng bởi tính chất không tiên đoán được về nguyên tắc của những hậu quả của nó, trong đó có cả những hậu quả tiêu cực.
Do vậy, con người cần phải luôn có thái độ sẵn sàng để biết cách đáp lại những thách thức do bản thân mình sáng tạo ra: thế giới thiết bị kỹ thuật nhân tạo có khả năng không những đem lại nhiều hữu ích mà cả sự thiệt hại không sửa chữa được cho con người và môi trường sinh sống của nó. Sống trong điều kiện văn minh công nghiệp, Freud nhận thấy nhiều giá trị to lớn của nền văn minh ấy đem lại cho con người. Song, ông cũng nhìn ra mặt trái của nền văn minh ấy. Nó đưa con người vào tình cảnh bị nô lệ về mặt tinh thần mà khoa học tự nhiên đương thời cũng bất lực trong nỗ lực khắc phục nó.
Thời hiện đại đề ra cho con người những yêu cầu ngày một cao hơn, đặt ra cho nó hàng loạt những vấn đề hết sức phức tạp mà bản thân quá trình sinh tồn là không thể thiếu việc giải quyết chúng. Đồng thời, việc bị lôi kéo vào dòng chảy của cuộc sống hiện tại dường như cũng không để lại cho con người thời gian dành cho những suy ngẫm nghiêm túc, do đó, con người hiện đại có nguy cơ đánh mất các định hướng, mục đích sống cơ bản. Con người hiện đại có nguy cơ bị lôi vào vòng xoáy của những sự kiện mà nó không thể 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nắm bắt được nguyên nhân và ý nghĩa. Tìm ra kim chỉ nam trong thế giới hiện đại đầy sóng gió là không đơn giản.
Triết học hiện đại cho rằng cội nguồn của những vấn đề sâu xa chủ yếu bắt nguồn trong bản thân con người, trong thế giới nội tâm của nó. Con người đau khổ không phải vì nó không thể giải quyết được những vấn đề bên ngoài mà vì nó không thể làm chủ được chính bản thân mình, những suy nghĩ của mình, ý thức của mình. Chính vì vậy mà rất khó có thể giải quyết được những vấn đề bên ngoài. Triết học hiện đại nhấn mạnh rằng, trái với hy vọng của con người, cả tiến bộ khoa học-kỹ thuật, cả tiện nghi và chất lượng sống đi liền với chúng đều không làm cho cuộc sống của con người hiện đại trở nên nhẹ nhàng hơn về mặt tâm lý con người.
Tính chất bi đát đặc biệt của bối cảnh hiện đại là ở chỗ, con người thường hóa ra không sẵn sàng chịu đựng được gánh nặng tâm lý-đạo đức của cuộc sống hiện đại, chống lại những cú đòn của số phận một cách xứng đáng. Thực tế xã hội Tây Âu lúc bấy giờ, những căn bệnh tinh thần không phải là hiếm hoi. Nhiều bác sỹ thần kinh học như Philip Pinel (1745-1826) người Pháp; Benjamin Ras (1745-1813) người Mỹ, Franz Anton Mesmer (1743-1815)- người Áo, James Breid (1795-1860) người Anh… đã dày công nghiên cứu các phương pháp chữa trị cho các bệnh nhân bị mắc bệnh tâm thần. Phương pháp phổ biến lúc bấy giờ mà các bác sỹ sử dụng là phương pháp thôi miên để giúp người bệnh “phục hồi” trạng thái tinh thần như khi chưa bị bệnh.
Mặc dù có hiệu quả song phương pháp thôi miên đã không thể chữa khỏi cho tất cả các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần. Xuất phát từ lý do đó, Sigmund Freud- một bác sỹ, một nhà thần kinh học đã bắt tay vào tìm hiểu nguyên nhân của việc chưa bệnh không có hiệu quả. Ông đã đặt ra câu hỏi: “Tại sao phương pháp thôi miên có thể chữa khỏi cho những bệnh nhân này 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà lại không thể chữa khỏi cho những bệnh nhân khác?”. Trong quá trình đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên, Freud đã phát hiện ra rằng phương pháp thôi miên chỉ có thể chữa khỏi bệnh tâm thần cho những bệnh nhân bị tổn thương cơ cấu hệ thần kinh mà không thể chữa khỏi cho những bệnh nhân bị bệnh tâm lý, không bị tổn thương hệ thần kinh.
Freud cho rằng để tìm ra căn nguyên của bệnh tâm thần loại này, cần phải nghiên cứu trên bình diện tâm lý. Vì thế, ông đã nghiên cứu, tìm hiểu từ chính thực tế chữa bệnh và tìm ra một phương pháp điều trị được gọi là Phân tâm học tức phân tích tâm lý người bệnh. Cho đến tận ngày nay, tên tuổi của Sigmund Freud vẫn gắn liền với Phân tâm học và ông được xem là người sáng lập ra bộ môn này. Freud: cuộc đời và con đƣờng đến với Phân tâm học Sigmund Freud sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 tại Freiberg, một thành phố nhỏ ở tỉnh Moravia, trước đây thuộc Áo, bây giờ là một phần của nước Tiệp Khắc.
Freud sinh ra trong một gia đình thương nhân người Do Thái. Cha ông là Jacob Freud (1815-1896) vốn là nhà buôn vải sợi, tuy không thành đạt nhưng lương thiện và thích giúp đỡ người khác. Năm 1855, ông xây dựng gia đình với một phụ nữ trẻ hơn ông 20 tuổi tên là Amalic Nathansohn (1835- 1930). Sigmund là đứa con đầu lòng của họ.
Freud từng thổ lộ rằng ông đã tiếp nhận tính đa cảm từ mẹ mình. Niềm kiêu hãnh và tình yêu mà Sigmund Freud dành cho mẹ mình sẽ để lại dấu vết sâu đậm không phai mờ như sau này ông có viết: “Khi ta nghiễm nhiên là đứa con yêu quý nhất của mẹ, ta sẽ giữ gìn suốt đời tình cảm chinh phục ấy, sự đảm bảo ấy trong thực tế hiếm khi nó không dẫn dắt ta tới thành công” [14; 52]. Trong trường trung học, Freud học kém môn Toán và ít quan tâm đến các môn khoa học nhưng ông thích lịch sử, văn chương và rất xuất sắc trong môn ngôn ngữ. Bổ sung thêm kiến thức của ông về tiếng Đức và Do Thái cổ, ông đã đạt tới mức thành thạo tiếng Latin, Hy Lạp cổ và nói hoàn toàn trôi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chảy tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha và tiếng Anh.
Freud rất hâm mộ Shakespeare, ngay từ hồi 8 tuổi, Freud đã bắt đầu đọc các tác phẩm của nhà văn này. Phải nói rằng Freud là một học sinh xuất sắc luôn đứng đầu lớp mặc dù khi nhận xét về mình, ông viết: “Năng lực hay tài nghệ của tôi rất hạn hẹp. Không điểm cho các môn khoa học tự nhiên, không điểm cho môn toán; không điểm cho tất cả những môn nào có tính số lượng. Thế nhưng cái chút ít, cái không đáng kể mà tôi có được có lẽ lại vô cùng mãnh liệt” [35; 26].
Năm 1873, Freud thi đỗ vào trường Y của thành phố Viên. Sự lựa chọn theo học ngành này được chính Freud giải thích trong cuốn hồi ký Đời tôi và Phân tâm học (Ma vie et la psychanalise năm 1925) như sau: “Mặc dù hồi đó, tiền nong sinh sống của chúng tôi hết sức eo hẹp, cha tôi vẫn tha thiết mong tôi theo đuổi ý hướng và chọn cho mình một nghề. Cả hồi đó lẫn về sau này tôi không hề thấy có sự ưa thích đặc biệt nào đối với hoàn cảnh và những bận rộn của nghề thầy thuốc; vả chăng từ bấy đến giờ tôi chưa từng cảm thấy ưa thích nghề đó. Đúng ra, tôi bị thôi thúc bởi một khát khao hiểu biết, song là một hiểu biết liên quan nhiều đến các quan hệ giữa con người với nhau hơn là liên quan đến các đối tượng riêng ở các ngành khoa học tự nhiên.