CHƯƠNG 1 CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM 1. Tổng quan về Cộng đồng Kinh tế ASEAN 1. Quá trình hình thành AEC bao gồm 10 nền kinh tế thành viên trong khối ASEAN chính thức được tuyên bố thành lập ngày 31 tháng 12 năm 2015 cùng với sự ra đời của AC. Quá trình hình thành AEC là sự nỗ lực lâu dài gắn liền với lịch sử phát triển của ASEAN.
Sau 25 năm hình thành và phát triển, năm 1992, vấn đề hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu được bàn đến trong Hiệp định khung về thúc đẩy hợp tác kinh tế ASEAN [21, tr. Năm năm sau, Hội nghị Cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai diễn ra từ ngày 14 đến 16/12/1997 tại Kuala Lumpur (Malaysia) đã có thêm một bước tiến mới khi bày tỏ mong muốn đưa ASEAN thành một khu vực ổn định, thịnh vượng, có sức cạnh tranh cao, với các nền kinh tế thành viên phát triển đồng đều [99]. Từ ước nguyện này, ý tưởng về thiết lập AEC được Thủ tướng Singapore ông Goh Chok Tong đưa ra tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở Phnom Penh. Ông cho rằng cần phải có một cộng đồng xuất phát từ việc “ASEAN có năng lực liên kết yếu đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài” [73, tr.
Ý tưởng này sau đó đã được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9 (tháng 10/2003) diễn ra tại Bali (Indonesia). Với Hội nghị này, lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II) thống nhất đề ra mục tiêu hình thành AC vào năm 2020 với ba trụ cột chính là ASC, AEC và ASCC [39, tr. Theo đó, AEC là “sự hiện thực của mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế đã được nêu ra trong tầm nhìn ASEAN 2020 nhằm mục đích tạo ra sự ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao của khu vực kinh tế ASEAN ở đó có sự tự do di chuyển cuả các luồng hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và một dòng tự do hơn nữa của vốn, sự phát triển kinh tế bình đẳng và giảm nghèo đói và chênh lệch kinh tế xã hội vào năm 2020” [103]. ASEAN sau đó đã đưa Chương trình Hành động Hà Nội và tiếp đó là Chương trình Hành động Viên Chăn cũng như các Kế hoạch hành động để xây dựng ba trụ cột của AC.
Trong đó, nội dung quan trọng là thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với các kế hoạch hành động và các dự án cụ thể. Năm 2004, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 đã thông qua Hiệp định khung ASEAN về hội nhập các ngành ưu tiên. Hiệp định này quy định kết 9 hợp sức mạnh kinh tế của các quốc gia thành viên trong các ngành kinh tế chiến lược chủ chốt vì sự gắn kết và nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu của khu vực thông qua việc đẩy nhanh hội nhập 11 ngành ưu tiên gồm sản phẩm nông nghiệp; ô tô; điện tử; thủy sản, sản phẩm cao su; dệt may; sản phẩm làm từ gỗ; du lịch hàng không; e-ASEAN; chăm sóc sức khỏe và du lịch [84, tr. Nhằm hiện thực hoá AEC, năm 2006, tại Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và lộ trình cụ thể.
Một năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì năm 2020 như kế hoạch đặt ra ban đầu [16, tr. Thực hiện mục tiêu trên, ASEAN đã thực hiện Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC một bộ phận của Lộ trình xây dựng AC giai đoạn 2009-2015. Trong Kế hoạch tổng thể đã xác định 4 thành tố chính của AEC gồm: i) Một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất; ii) Một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh; iii) Phát triển kinh tế đồng đều và iv) Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu [39, tr. Từ kết quả thực hiện kế hoạch tổng thể, ngày 21/11/2015, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC [104].
Theo kí kết này, ngày 31/12/2015, AEC chính thức tuyên bố được thành lập và là một trong 3 trụ cột chính cấu thành nên AC. Như vậy, sự ra đời của AEC là quá trình nỗ lực của gần 50 năm hình thành và phát triển của ASEAN. AEC cùng với các trụ cột khác là tiền đề để thúc đẩy hơn nữa sự hội nhập, hợp tác kinh tế của ASEAN trong các thập kỉ tiếp theo. Các trụ cột chính Năm 2015 khi tuyên bố thành lập, AEC xác định cộng đồng này được xây dựng dựa trên 4 trụ cột cơ bản là: Thứ nhất, một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung; Thứ hai, một khu vực kinh tế cạnh tranh; Thứ ba, phát triển kinh tế cân bằng; Thứ tư, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu [104].
Các trụ cột chính và yếu tố cấu thành trụ cột chính của AEC [39] Trụ cột chính Yếu tố cấu thành Tự do lưu chuyển hàng hóa Một thị trường đơn nhất Tự do lưu chuyển dịch vụ và một cơ sở sản xuất Tự do lưu chuyển đầu tư thống nhất Tự do lưu chuyển vốn 10 Trụ cột chính Yếu tố cấu thành Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề Chính sách về cạnh tranh Bảo hộ người tiêu dùng Khu vực kinh tế có khả Quyền sở hữu trí tuệ năng cạnh tranh Phát triển cơ sở hạ tầng Thuế quan thương mại điện tử Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Phát triển kinh tế Thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách đồng đều phát triển trong ASEAN Hội nhập vào nền kinh Tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến tế toàn cầu trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu Trên cơ sở xác định các trụ cột chính và yếu tố cấu thành, AEC đã chủ trương phát triển các trụ cột cụ thể như sau: a. Một thị trường đơn nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất Các biện pháp chính mà ASEAN thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: xoá bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; tự do hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề…song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp. Các biện pháp thực hiện AEC đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như AFTA, ATIGA, AFAS, AIA, ACIA,… b. Khu vực kinh tế có khả năng cạnh tranh ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử… ASEAN cũng đã xây dựng Kế hoạch Hành động Cạnh tranh ASEAN (ACAP) cho giai đoạn 2016 - 2025, trong đó đặt ra một số mục tiêu và sáng kiến nhằm đưa chính sách cạnh tranh gắn kết không tách rời khỏi chính sách kinh tế chung.
Mục tiêu căn bản của Kế hoạch này là tạo ra một sân chơi 11 bình đẳng cho mọi doanh nghiệp bất kể loại hình sở hữu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do hóa và tạo ra một thị trường thống nhất, đồng thời hỗ trợ tạo dựng một khu vực có tính cạnh tranh và đổi mới sáng tạo. Để trợ giúp việc thực thi kế hoạch hành động ACAP, Ban Thư ký ASEAN, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và chính phủ Vương quốc Anh đã thống nhất thực hiện một dự án 3 năm tập trung vào mục tiêu tăng cường cạnh tranh trong ASEAN. Dự án sẽ giúp cải thiện môi trường kinh doanh thông qua xây dựng một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại và giảm sự bất bình đẳng. Phát triển kinh tế đồng đều ASEAN đã thông qua và đang triển khai khuôn khổ ASEAN về phát triển kinh tế đồng đều (AFEED), trong đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích sự phát triển doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ, phát triển đối tác công tư, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực cho các nước thành viên và Ban Thư ký ASEAN.
Với quyết tâm thúc đẩy kết nối và thu hẹp khoảng cách phát triển trong tiến trình xây dựng AC, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch Tổng thể Kết nối ASEAN 2025 và Chương trình Công tác sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) giai đoạn 3. Theo đó, kế hoạch kết nối sẽ tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược gồm phát triển cơ sở hạ tầng bền vững, sáng tạo số, chuỗi cung ứng không gián đoạn, tối ưu hóa hoạch định và thực thi chính sách, giáo dục, đào tạo nghề và đi lại nội khối. Chương trình công tác sáng kiến hội nhập hướng đến 5 lĩnh vực ưu tiên là thực phẩm và nông nghiệp, thuận lợi hóa thương mại, phát triển doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, y tế và phúc lợi, đào tạo và lao động, nhằm tiếp tục hỗ trợ các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam hội nhập khu vực, thu hẹp khoảng cách phát triển, hướng tới một ASEAN phát triển đồng đều, bền vững. Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á với 6 FTAs đã được ký với các đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á, với GDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm 1/2 dân số thế giới.