Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vần đề nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận về việc làm 1. Một số khái niệm về việc làm Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã thừa nhận con người tiến hóa và phát triển là nhờ có lao động, khi xã hội càng phát triển thì yêu cầu về lao động ngày càng cao, chính vì vậy phải có nhận thức đúng đắn về việc làm.
Có rất nhiều quan niệm về việc làm nhưng chung quy lại: Việc làm là hoạt động nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội không bị pháp luật ngăn cấm. Theo quan niệm này thì việc làm bao gồm tất cả các hoạt động với những nội dung phong phú liên quan đến sự sống còn và phát triển của một xã hội nhất định. Từ những cơ sở trên chúng ta có thể kết luận: người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động và đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội. việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho những người trong cùng một hộ gia đình.
Việc làm bao gồm ba dạng: Thứ nhất là việc làm nhằm nhận tiền công, tiền lương dưới dạng tiền hoặc hiện vật, thứ hai là những công việc nhằm thu lại lợi nhuận, thứ ba là những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả công. Tuy nhiên việc làm là vấn đề rộng, đa dạng và phong phú người ta có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau và kết hợp giữa các tiêu thức để tính hiệu quả toàn diện về xã hội, kinh tế để đánh giá phân loại chính xác việc làm, như việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, việc làm tự do. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc làm.
Theo qua điểm của Robeet J. Gordan thì “Ai có công ăn việc làm đều là những người hữu nghiệp, ai không có công ăn việc làm đều là những người thất nghiệp, ai không đáp ứng được thị trường lao động đều không nằm trong lực lượng lao động”. Trong từ điển kinh tế khoa học xã hội xuất bản tại Paris năm 1996 khái niệm về việc làm được nêu ra như sau: “Việc làm là công việc mà người lao động tiến hành nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật”. Ở Việt Nam, trong Luật Việc làm số 38/2013/QH13, ngày 16/11/2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua đã khẳng định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Như vậy mọi hoạt động lao động của người dân trong độ tuổi quy định mà tạo ra thu nhập đồng thời không bị pháp luật cấm thì được gọi là việc làm. Khái niệm về thất nghiệp Không có việc làm - thất nghiệp đang trở thành vấn đề nóng bỏng gây sức ép kinh tế xã hội cho mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đặc biệt là đang trong quá trình CNH-HĐH đất nước, thì nền công nghiệp phát triển càng cao, khoa học kinh tế càng phát triển thì yêu cầu về trình độ lao động ngày càng cao, một số bộ phận lao động không đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển nên đã mất việc làm. Khi thất nghiệp ở mức độ cao sản xuất sút kém, nguồn lực không huy động hết, thu nhập giảm sút và tệ nạn xã hội phát triển.
Theo quan điểm của ILO định nghĩa thất nghiệp là người không có khả năng làm việc và nhu cầu tìm việc làm. Vậy những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và xã hội: “ Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”. Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế tất yếu khách quan và bình thường.
Song sự duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức độ cao cho phép tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh về lao động có hiệu quả, góp phần tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát là vấn đề nan giải đáng quan tâm của mỗi quốc gia. Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động (tổng dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ; nhưng đối với các nước đang phát triển tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng thực sự nguồn lao động. Thất nghiệp được phân loại như thất nghiệp thật sự, thất nghiệp trá hình, bán thất nghiệp… Có những người bỏ việc, mất việc sau một thời gian được gọi lại làm việc. Như vậy số người mất việc là con số mang tính thời điểm, nó luôn biến đổi không ngừng theo thời gian, nó vận động từ có việc - thất nghiệp - có việc và được gọi là dòng luân chuyển thất nghiệp.
Dòng luân chuyển thất nghiệp có đầu vào là những người gia nhập vào đội quân thất nghiệp. Khi dòng vào lớn hơn dòng ra thì quy mô thất nghiệp tăng lên và ngược lại. Dòng luân chuyển thất nghiệp cân bằng thì quy mô không đổi, tỷ lệ thất nghiệp tương đối ổn định. Dòng thất nghiệp phản ánh sự biến động của thị trường lao động.
Quy mô thất nghiệp gắn với khoảng thời gian thất nghiệp trung bình, khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân thời gian thất nghiệp của toàn bộ số người thất nghiệp trong cùng một thời kỳ. Nếu khoảng thời gian thất nghiệp càng rút ngắn thì cường độ của dòng vận chuyển thất nghiệp tăng lên, thị trường lao động biến động mạnh, việc tìm kiếm sắp xếp việc trở lên khó khăn. Khi nghiên cứu thất nghiệp chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc của thất nghiệp, thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quyết, có thể chia thất nghiệp ra làm 4 loại: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời kỳ tìm kiếm việc làm hoặc nơi làm việc tốt hơn. - Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các loại lao động, giữa các ngành nghề trong khu vực.
- Thất nghiệp do thiếu cầu: xảy ra khi các mức cầu chung về lao động giảm xuống, nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu. - Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường là loại thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển. Nó sảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Tóm lại: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động, thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng (đường cầu lao động dịch chuyển sang trái) còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển xảy ra do yếu tố chính trị - xã hội.
Khái niệm thất nghiệp tự nhiên là thất nghiệp dựa trên cơ sở xem xét sự cân bằng của thị trường lao động. Nó gồm hai loại, thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. - Thất nghiệp tự nguyện: là những lao động không quan tâm đến một số nghề mặc dù họ có đủ điều kiện để làm vì họ có một phần nguồn vốn từ bên ngoài. - Thất nghiệp không tự nguyện: là những người muốn làm bất kỳ công việc nào đó mà họ không quan tâm đến mức tiền lương nhưng họ không tìm được việc làm.
Khái niệm về thiếu việc làm Thiếu việc làm: Là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quĩ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 người thiếu việc làm. Theo tổ chức lao động thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau. - Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. - Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
Cơ sở lý luận về thu nhập của lao động nông thôn 1. Khái niệm: Thu nhập biểu thị bằng một lượng giá trị hoặc hiện vật mà người lao động nhận được bằng hoạt động lao động của mình. Như vậy, với nền kinh tế quốc dân, thu nhập là tổng giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian. Với chủ doanh nghiệp tư nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Với người công nhân, thu nhập của họ chính là tiền lương mà họ nhận được. Với người lao động nông thôn, thu nhập có hai phần cơ bản: - Thu nhập tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doan h, tiền công do làm thuê - Các khoản hỗ trợ từ người thân, họ hàng, các khoản trợ cấp. Trong cơ cấu thu nhập của lao động nông thôn, phần thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, làm thuê. chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn và có vai trò quyết định đến sự phát triển của kinh tế nông thôn.
Phần được hỗ trợ chiếm tỷ lệ nhỏ bé và không thường xuyên, nó chỉ có vai trò giúp cho lao động nông thôn giảm phần nào gánh nặng của cuộc sống trong thời kỳ khó khăn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trong thời kỳ hiện nay, thu nhập của lao động nông thôn nước ta có hai biểu hiện rất rõ nét: Thứ nhất: Thu nhập của lao động nông thôn là rất thấp và có khoảng cách khá xa so với thành thị.