PHẦN MỞ ĐẦU I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau hai mươi năm kể từ khi Đảng tiến hành đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành quả đáng khích lệ: Kinh tế phát triển ổn định và kéo dài. Chúng ta đã duy trì “tốc độ tăng trưởng nhanh liên tục đến nay đạt 20 năm” [24,27], không những thế, còn tăng với mức độ nhanh “Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong 20 năm đổi mới đạt 6,8%, riêng thời kỳ 1991-2002 đạt 7,5%”[24,27] và được đánh giá là tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai trên thế giới. Bước ra từ chiến tranh, với một nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến, và một nền nông nghiệp lạc hậu, hàng năm phải nhập khẩu gạo để cứu đói cho người dân; ngày nay nước ta đã tự túc được lương thực và dần dần trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Đang là một nước có cơ cấu kinh tế dựa trên nông nghiệp là chính, với số người dân sống ở vùng nông thôn khoảng 70%, với nền kinh tế dựa trên nông nghiệp, chúng ta đã, đang chuyển dần cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Chỉ cần xem xét mấy năm gần đây chúng ta có thể thấy được sự biến đổi này “Trong cấu trúc tổng sản phẩm trong nước, tỷ trọng đóng góp của lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần từ 40,5% năm 1991 xuống còn 25,7% năm 1997, trong khi đó tỷ trọng sản phẩm do lao động công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Năm 1991, lao động công nghiệp và xây dựng đóng góp 23,8% trong tổng sản phẩm trong nước, năm 1997 tỷ trọng đó là 31,7%. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động trong nông nghiệp từ 73% xuống 67%, tăng dần tỷ lệ lao động trong công nghiệp và nhanh nhất là ngành dịch vụ từ 16% lên 20% trong thời kỳ 1990- 2001”[18,280]. -1- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Kết quả của sự đổi mới và những chương trình phát triển có thể sẽ không được sáng lạn như vậy nếu Đảng và Nhà nước không có những chính sách quyết liệt, hợp lý, và đúng đắn trong từng thời kỳ.
Trong rất nhiều các chính sách bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ đổi mới, chúng ta có thể thấy hai tập hợp chính sách tạo lên những chuyển biến rõ nét của nền kinh tế: Giai đoạn đầu đổi mới, phát triển nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Những chính sách mở cửa đã cởi trói sức lao động của người dân nông thôn, tạo ra một sự biến đổi rõ rệt ở khu vực nông thôn, từ đó sản lượng lương thực tăng lên nhanh chóng. Giai đoạn sau các chính sách tập trung vào phát triển công nghiệp, khuyến khích sự thành lập các doanh nghiệp, tạo việc làm, thu hút nguồn lao động đang dư thừa của đất nước. Với đà phát triển kinh tế, để tiến hành công nghiệp hoá thành công, hiện đại hoá đất nước, để giảm mạnh tỷ lệ người nghèo và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế đất nước, Đảng ta đã phát động Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục đích chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, làm cho “Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43%.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn 50%”[34,160] Những sự biến động trên tác động mạnh mẽ đến đời sống người dân cả nước, đồng thời làm biến đổi cơ cấu công nghiệp/nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta. Sự tăng lên của tỷ lệ công nghiệp và giảm xuống của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân làm cho một bộ phận dân chúng không có việc làm ở nông thôn phải di cư lao động từ khu vực nông thôn sang đô thị. Sự vận động trên thực ra không nằm ngoài những lý luận của các nhà xã hội học, theo kết luận của một nghiên cứu xã hội học, “Khi tiền vốn đầu tư ở khu vực đô thị trở thành yếu tố quan trọng tạo cơ hội việc làm tốt hơn, dòng di dân sẽ hướng chủ -2- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn yếu vào khu vực đô thị, tạo ra sức ép về dân số và cơ sở hạ tầng ở khu vực đô thị”[15,5]. Để giảm bớt sức ép của mật độ dân số quá cao, các nhà quản lý đô thị sẽ phải mở rộng thành phố, cải tạo cơ sở hạ tầng.
và vì thế “Sự di cư là nguyên nhân chính của sự phát triển nhanh chóng của nhiều thành phố ngày nay ở Thế giới thứ ba” [20,668]. Việt Nam cũng không thể tránh khỏi quy luật di cư nông thôn-thành thị và sự phát triển các đô thị, vì thế Đảng và nhà nước đã luôn luôn cho ra đời những luật pháp, chính sách phát triển doanh nghiệp để giảm bớt sức ép về việc làm cho người lao động ở đô thị. Do đó, “Gần đây, các doanh nghiệp tư nhân đã mở rộng cả về số lượng, nhân công và sản lượng, phản ánh tiến bộ đáng kể trong việc bãi bỏ các hạn chế đối với khu vực tư nhân trong nước trong các hoạt động công nghiệp và dịch vụ và đặc biệt là ngoại thương từ năm 1999”[3,146]. Một trong các chính sách giai đoạn này, Luật doanh nghiệp đã chứng minh được tính hiệu quả của nó: “Chỉ trong vũng 6 năm từ 2000 - 2005, số lượng DN đăng ký kinh doanh đó gấp 3,3 lần số DN đăng ký trong 10 năm trước đó”[43] đồng thời, “Ngoài ra cũn cú khoảng 2 triệu hộ kinh doanh cỏ thể và hàng chục ngàn chi nhỏnh và văn phũng đại diện được thành lập” [43].
Điều quan trọng hơn, nhận thức về kinh doanh, kinh tế được đổi mới, các thành phần kinh tế đã chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế. Khu vực kinh tế tư nhân, phi chính thức được công nhận và được đánh giá vì có những đóng góp phù hợp với chính sách phát triển của quốc gia. Các nhà khoa học đã kết luận: “Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực tạo được việc làm nhiều nhất, không những thế, còn là rẻ nhất và nhanh nhất” [19,10]. Cụ thể hơn: “Theo Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới mới đây, thì để tạo ra một chỗ làm, doanh nghiệp nhà nước trung bình tiêu tốn 18.000USD, trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần đến 800 USD” [19,10].
-3- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Tuy đã có nhiều sự chú ý, nhưng sự đánh giá của nhà nước về khu vực kinh tế này vẫn thấp hơn với tầm cỡ phát triển của chúng nên các chính sách chưa phát huy hiệu quả tối đa. Theo như nhận định của một nhà nghiên cứu nước ngoài thì : “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhận thấy vai trò tích cực của khu vực tư nhân, tuy nhiên các chính sách thường chưa thật cụ thể” [3,148], và: “các doanh nghiệp vẫn chưa nhận được sự đối xử công bằng đối với hoạt động của họ”[3,148]. Quan hệ của giới chủ và người lao động có nhiều vấn đề khúc mắc. Biểu hiện dễ thấy là gần đây các vụ đình công nổ ra ngày càng nhiều, tuy phần lớn tập trung vào các khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài, nhưng cũng có đến khoảng 1/4 là ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: “560 vụ đỡnh cụng tại Việt Nam kể từ thỏng giờng năm 2004 đến trung tuần tháng 6 năm 2006.
trong số 560 vụ đỡnh cụng, cú 409 vụ xảy ra ở cỏc cụng ty cú vốn đầu tư nước ngoài, 138 vụ ở các công ty ngoài quốc doanh và 13 vụ tại các doanh nghiệp nhà nước”[41]. Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu vực kinh tế này trong việc giải quyết việc làm cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân còn chưa được thấu đáo. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động còn chưa được bình đẳng và thiếu sự giám sát của pháp luật, mà người thường bị thiệt thòi là người lao động do họ không có đủ hiểu biết, kiến thức pháp luật và vị thế thấp kém. Người lao động thường có hướng giải quyết vấn đề của họ theo một cách tiêu cực bằng các hành động chống đối của họ đối với giới chủ, đình công hoặc các hình thức phá hoại khác được tiến hành.
Nếu để phát triển tình trạng này thì chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam khó đạt được những kết quả mong muốn. -4- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Để những vấn đề trên có thể được giải quyết một cách thấu đáo, đồng thời có thể nâng cao được đời sống của người lao động di cư, giải quyết sự căng thẳng trong các quan hệ của họ, chúng ta cần phải hiểu rõ được tình trạng việc làm, lao động của người lao động di cư tự do làm việc ở khu vực kinh tế này. Với những lý do như vậy, luận văn sẽ cố gắng làm rõ thực trạng việc làm của người lao động di cư làm việc ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ thuộc quận Hoàng Mai - Hà Nội, phát hiện những vấn đề chưa hợp lý từ đó góp phần đưa ra những kiến nghị cần thiết về mặt chính sách để phát triển mặt mạnh, giảm bớt những khó khăn, vướng mắc của người lao động di cư và sử người dụng lao động, từng bước nâng cao đời sống cho nhóm người lao động di cư làm việc ở khu vực này. Qua trường hợp nghiên cứu quận Hoàng Mai, luận văn cũng hy vọng sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng việc làm của nhóm người di cư vào Hà Nội nói chung, hoặc có thể giúp đỡ giải thích một số vấn đề ở tầm cỡ lớn hơn.
II - ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Tình trạng việc làm và thu nhập của nhóm người lao động di cư tự do trong các cơ sở sản xuất nhỏ. Khách thể nghiên cứu Người lao động di cư hiện đang làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ. Người chủ cơ sở sản xuất nhỏ đang sử dụng lao động di cư Người quản lý chính quyền nơi địa bàn nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở quận Hoàng Mai, nơi có nhiều biến đổi nhanh theo hướng đô thị hoá của Hà Nội. -5- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.