Chương 1: Khái quát về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và một số kiến nghị hoàn thiện. KHÁI QUÁT VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 1. Khái niệm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa: giao thông là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và các phương tiện chuyên chở [41-tr.430], đường bộ là đường đi trên đất liền [41-tr.
Có 4 loại hình giao thông gồm: giao thông đường bộ, giao thông đường thủy, giao thông đường sắt và đường hàng không. Đường bộ nằm trên bề mặt trái đất, là đường dành cho phương tiện giao thông như xe gắn máy, xe ô tô, xe tải, xe đạp… và người đi bộ di chuyển, không dành cho máy bay, tàu thuyền di chuyển. Đường bộ có đặc điểm là bằng phẳng, thường được lát đá, trải nhựa hoặc cách thức khác để cho phép giao thông dễ dàng. Theo khoản 1 Điều 3 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ.
Như vậy, giao thông đường bộ là việc di chuyển, đi lại trên bề mặt trái đất theo lộ trình từ vị trí này sang vị trí khác của các đối tượng như người đi bộ, các phương tiện giao thông đường bộ, động vật. Trong các loại hình giao thông thì giao thông đường bộ là phổ biến nhất và giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập, toàn cầu hóa. Bởi lẽ nó là loại hình giao thông lâu đời nhất trong lịch sử loài người, gần gũi với con người nhất, bất cứ tầng lớp xã hội nào cũng có thể tham gia giao thông đường bộ, không phân biệt giàu nghèo. Giao thông đường bộ giúp kết nối các địa phương, tỉnh thành trong nước, các quốc gia lại với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa, hợp tác, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Nhà nước không ngừng đầu tư để phát triển hệ thống giao thông đường bộ ngày càng hiện đại, thuận tiện hơn. Đi đôi với nó, việc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ là vấn đề trọng yếu mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm. 7 Xây dựng cơ chế đảm bảo an toàn giao thông đường bộ đóng vai trò quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình trạng tắc nghẽn giao thông, tai nạn giao thông… diễn ra ngày càng phức tạp. Mà nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông là do vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Việc bảo vệ an toàn giao thông đường bộ khi có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông được Nhà nước ta thực hiện dưới hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự. BLHS 2015 quy định Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ để điều chỉnh hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây nguy hiểm cho xã hội. Tội danh này thuộc chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Chương này gồm 70 tội danh, có bốn mục tương ứng với bốn nhóm tội phạm: - Mục 1: Các tội xâm phạm an toàn giao thông.
Gồm 25 tội danh từ Điều 260 đến Điều 284 BLHS 2015. Mục này liên quan đến các tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không. - Mục 2: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Gồm 10 tội danh từ Điều 285 đến Điều 294 BLHS 2015.
- Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm an toàn công cộng. Gồm 23 tội danh từ Điều 295 đến Điều 317 BLHS 2015. - Mục 4: Các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng. Gồm 12 tội danh từ Điều 318 đến Điều 329 BLHS 2015.
BLHS 2015 không quy định cụ thể như thế nào là Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Nhưng tại Điều 8 BLHS 2015 có quy định về khái niệm tội phạm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác 8 của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Từ khái niệm tội phạm nói chung, có thể thấy tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, xâm phạm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được định nghĩa cụ thể trong giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội thì: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau: Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000 đồng trở lên; Có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời [35-tr.
Định nghĩa này dựa trên Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa sửa đổi, cách đưa ra định nghĩa khá hoàn chỉnh, nêu ra được dấu hiệu chủ thể, khách thể, mặt khách quan của tội phạm. Nhưng vì chỉ dựa theo quy định của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ để định nghĩa nên chưa nêu rõ mặt chủ quan của tội phạm, cụ thể là tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý. Từ những phân tích trên, kết hợp với quy định tại Điều 260 BLHS 2015, tác giả đưa ra khái niệm sau: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định, thực hiện với lỗi vô ý, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau: Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản từ 9 100.000 đồng trở lên; Có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả làm chết từ 03 người trở lên, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên, hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 1.000 đồng trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời. Dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 1.
Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại. Hành vi phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, qua đó, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là con người, tài sản. Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm, diễn ra và tồn tại trong thế giới khách quan [39-tr.
Mặt khách quan của tội phạm gồm các dấu hiệu sau: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm phạm tội, phương tiện gây án… Tùy theo quy định của tội phạm cụ thể mà có thể có một, một vài hoặc tất cả các dấu hiệu trên. Trong đó, dấu hiệu hành vi là dấu hiệu không thể thiếu trong bất cứ tội phạm nào. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có cấu thành tội phạm vật chất, nghĩa là mặt khách quan của tội phạm này có dấu hiệu hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, cụ thể là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Bao gồm hành vi điều khiển, sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, điều khiển, dẫn dắt súc vật, hành vi của người đi bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới 10 đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy chuyên dùng. Các phương tiện tham gia giao thông đường bộ có thể là xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ôtô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy; xe đạp; xe xích lô; xe lăn dùng cho người khuyết tật; xe súc vật kéo. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ được hiểu là người trực tiếp vận hành phương tiện để phương tiện chuyển động và tham gia giao thông đường bộ như người lái xe ô tô, lái xe máy.
cũng có thể là người hướng dẫn cho học sinh lái xe thực hành trên đường [23-tr. Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ rất đa dạng.