Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam" do sinh viên Nguyễn Trần Hoài Thương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Thanh Thảo tại Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2015 – 2019). Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam diễn biến phức tạp và gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản. Theo số liệu được tác giả trích dẫn từ Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, chỉ riêng trong năm 2018, cả nước đã xảy ra 18.700 vụ tai nạn giao thông, làm hơn 8.200 người chết và 14.800 người bị thương; trung bình mỗi ngày xảy ra 52 vụ làm 23 người tử vong, trong đó 80% tổng số vụ tai nạn tập trung ở lĩnh vực đường bộ. Nguyên nhân trực tiếp chủ yếu xuất phát từ các hành vi vi phạm quy tắc giao thông như chạy quá tốc độ, đi sai làn đường, vi phạm nồng độ cồn.

Về mặt lập pháp, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực đã thay thế tội danh "Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" (Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999) bằng "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" (Điều 260). Dù quy định mới đã khắc phục một số điểm bất cập của luật cũ, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến dấu hiệu định tội, thuật ngữ mô tả hành vi và việc phân định trách nhiệm hình sự, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:

  1. Phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ qua các thời kỳ lịch sử pháp luật Việt Nam, quy định trong pháp luật hình sự một số quốc gia và quy định hiện hành tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015;
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật đối với tội phạm này trên phạm vi cả nước và khảo sát thực tiễn xét xử tại địa phương cụ thể (địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013 – 2017);
  3. Chỉ ra các điểm bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện điều luật cùng văn bản hướng dẫn áp dụng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và thực tiễn xét xử tội danh này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về mặt lý luận, khóa luận tập trung nghiên cứu quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trên cơ sở so sánh với Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 1985 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Về mặt thực tiễn, khóa luận thu thập, phân tích số liệu tai nạn giao thông trên phạm vi toàn quốc năm 2018 và dữ liệu thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận luật hình sự Việt Nam về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và các nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự. Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp được trích dẫn, phân tích bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
  • Bộ luật Hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992, 1997);
  • Luật Giao thông đường bộ năm 2008;
  • Các văn bản hướng dẫn tư pháp: Nghị quyết số 04-HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XIX Bộ luật Hình sự 1999;
  • Các văn bản lập pháp lịch sử: Bộ Quốc triều Hình luật (thời Hậu Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn - 1812), Quốc triều luật lệ toát yếu (1908), Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955, Thông tư số 556/TTg ngày 29/6/1956, Công văn số 949-NCPL ngày 25/11/1968 của Tòa án nhân dân Tối cao, Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/03/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam;
  • Pháp luật hình sự quốc tế: Điều 133 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Điều 264 và Điều 268 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga; Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức.

Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để bóc tách các dấu hiệu định tội, giải nghĩa các cấu thành tội phạm và xâu chuỗi các số liệu thực tiễn;
  • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để truy nguyên quá trình phát triển của quy định xử lý hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông qua các thời kỳ phong kiến, giai đoạn kháng chiến và các lần pháp điển hóa hình sự;
  • Phương pháp so sánh luật học: Được vận dụng để đối chiếu quy định giữa Bộ luật Hình sự năm 2015 với Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời so sánh quy định của Việt Nam với các chuẩn mực trong luật hình sự của Trung Quốc và Liên bang Nga;
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống và thống kê thực tiễn: Thu thập, tổng hợp số liệu bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm để nhận diện thực trạng xử phạt và các dạng sai sót trong định tội danh.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm số liệu thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia năm 2018, số liệu xét xử thực tế từ hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau từ năm 2013 đến năm 2017, giáo trình đào tạo luật của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các công trình nghiên cứu chuyên khảo, bài báo khoa học đăng tải trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế liên quan đến Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, chia thành bốn nội dung lớn:

  1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý theo Bộ luật Hình sự năm 2015:
  • Tác giả phân tích vị trí điều luật: Tội phạm được quy định tại Điều 260, thuộc Mục 1 (Các tội xâm phạm an toàn giao thông, gồm 25 tội danh từ Điều 260 đến Điều 284), Chương XXI (Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng gồm 70 tội danh).
  • Khái niệm: Trên cơ sở phân tích khái niệm tội phạm tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 và phê phán định nghĩa của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (do thiếu sót dấu hiệu lỗi ở mặt chủ quan), tác giả đề xuất định nghĩa hoàn chỉnh: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, thực hiện với lỗi vô ý, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe (thương tật 61% trở lên), tài sản hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  • Khách thể: Trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời gián tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức. Đối tượng tác động là con người và tài sản.
  • Mặt khách quan: Bao gồm hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ năm 2008 của người tham gia giao thông (điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng, người đi bộ, người dẫn dắt súc vật). Văn bản lưu ý: nếu phương tiện di chuyển trong không gian khép kín không tham gia giao thông công cộng (công trường, trường học) mà gây chết người thì xử lý theo tội phạm khác như Điều 128 (vô ý làm chết người) hoặc Điều 295 (vi phạm an toàn lao động). Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc đối với cấu thành tội phạm vật chất (chết người, tổn thương cơ thể một người từ 61% trở lên, tổn thương nhiều người từ 61% trở lên, hoặc thiệt hại tài sản). Riêng khoản 4 Điều 260 quy định cấu thành tội phạm bổ sung (nguy cơ thực tế gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không ngăn chặn kịp thời).
  • Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải là chủ thể của tội danh này.
  • Mặt chủ quan: Lỗi vô ý (vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do quá tự tin). Nếu chủ thể cố ý sử dụng phương tiện giao thông đâm nạn nhân nhằm tước đoạt tính mạng thì phải định tội Giết người (Điều 123), phương tiện khi đó là công cụ gây án.
  • Hình phạt: Gồm 4 khung hình phạt chính (phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn từ 3 tháng đến 15 năm) và hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm).
  1. Lịch sử hình thành quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam: Khóa luận chia lịch sử lập pháp thành 5 giai đoạn:
  • Giai đoạn trước 1945: Dẫn chứng Điều 1 Chương XI Tạp luật trong Quốc triều Hình luật (thời Lê) quy định vô cớ phóng ngựa trong phố xử 60 trượng; Điều 265 Hoàng Việt luật lệ (1812) quy định xe ngựa chạy nhanh gây chết người phạt 100 trượng, đày 3000 dặm và bồi thường 10 lạng bạc; Quốc triều luật lệ toát yếu (1908) phân hóa tội phạm giữa chốn đông người và đồng vắng.
  • Giai đoạn 1945 – 1985: Thông tư số 442/TTg năm 1955 lần đầu định danh "Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn"; Thông tư số 556/TTg năm 1956 bổ sung khung hình phạt tử hình hoặc chung thân cho tai nạn đặc biệt lớn; Công văn số 949-NCPL năm 1968 xác định tội danh thuộc nhóm tội khinh xuất; Sắc lệnh số 03-SL/76 tại miền Nam quy định mức phạt tù tối đa 10 năm.
  • Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1985: Quy định tại Điều 186 với tên gọi Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải, gộp chung cả 4 lĩnh vực giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không).
  • Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999: Lần đầu tiên tách hành vi vi phạm giao thông đường bộ thành tội danh độc lập tại Điều 202; hướng dẫn bởi Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT.
  • Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 2015: Quy định tại Điều 260 và được sửa đổi năm 2017 theo hướng bãi bỏ việc xử lý hình sự đối với thương tích dưới 61% của 01 người.
Tiêu chí đối chiếu Điều 202 BLHS năm 1999 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017)
Tên tội danh Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Chủ thể phạm tội Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Người tham gia giao thông đường bộ (bao gồm cả người đi bộ, người dẫn dắt súc vật)
Hành vi khách quan Chỉ giới hạn ở hành vi điều khiển phương tiện Mở rộng hành vi của mọi người tham gia giao thông (đi bộ sai luật, thả dắt súc vật...)
Dấu hiệu hậu quả Dùng từ ngữ định tính: "nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng" Định lượng chi tiết từng khung; thay "tỷ lệ thương tật" bằng "tỷ lệ tổn thương cơ thể"
Mức khởi điểm hậu quả sức khỏe Gây thương tích 01 người từ 31% trở lên Gây tổn thương cơ thể 01 người từ 61% trở lên (bãi bỏ khung 31% - 60% đối với 01 người)
Khung hình phạt cơ bản Phạt tiền 5 - 50 triệu đồng; tù 6 tháng - 5 năm Phạt tiền 30 - 100 triệu đồng; tù 1 năm - 5 năm
  1. Pháp luật hình sự một số quốc gia:
  • Trung Quốc: Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1979 (sửa đổi qua 5 lần đến năm 2005) quy định tội danh vi phạm luật lệ giao thông vận tải. Điều luật có tính khái quát cao, gộp chung đường bộ với các loại hình vận tải khác; quy định mức phạt tù tối đa không giới hạn cụ thể khi trốn chạy gây chết người (từ 7 năm trở lên), áp dụng cải tạo lao động và không quy định hình phạt bổ sung.
  • Liên bang Nga: Tách thành hai tội danh riêng biệt gồm Điều 264 (người lái xe cơ giới, xe điện vi phạm) và Điều 268 (hành khách, người đi bộ và người tham gia giao thông khác vi phạm quy tắc an toàn vận hành). Mức độ phân hóa chủ thể rất cụ thể, áp dụng hình phạt lao động bắt buộc, giới hạn tự do và tước quyền lái xe đến 3 năm.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 phản ánh tình hình thực tế áp dụng luật hình sự đối với tội phạm này, tập trung phân tích số liệu tại tỉnh Cà Mau và nhận diện các bất cập:

  1. Thực tiễn áp dụng và xét xử:
  • Tình hình tai nạn giao thông và xét xử được phản ánh qua hệ thống 4 bảng số liệu thực tế tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013 – 2017:
    • Bảng 2.1: Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2013 – 2017.
    • Bảng 2.2: Số liệu, tỷ lệ Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ so với tổng số vụ án đã xét xử, so với nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng từ năm 2013 – 2017 trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
    • Bảng 2.3: Số liệu các bị cáo bị xét xử về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khung hình phạt từ năm 2013 - 2017 trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
    • Bảng 2.4: Loại hình phạt đối với các bị cáo xét xử theo Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 từ năm 2013 - 2017 trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
  1. Bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành:
  • Bất cập về lập pháp: Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bãi bỏ quy định xử lý các trường hợp thiệt hại hỗn hợp vốn từng được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT. Ví dụ: trường hợp hành vi vi phạm làm chết 01 người (thuộc khoản 1) đồng thời gây tổn hại sức khỏe cho người khác từ 61% đến 121% (cũng thuộc khoản 1) thì điều luật không quy định rõ áp dụng khung nào, dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng khi chỉ có thể áp dụng khoản 1 mà không thể chuyển khung tăng nặng.
  • Bất cập về bãi bỏ ngưỡng thương tích: Việc sửa đổi năm 2017 loại trừ hành vi gây thương tích cho 01 người từ 31% đến 60% ra khỏi phạm vi xử lý hình sự đã tạo khoảng trống pháp lý, làm giảm tính răn đe đối với những trường hợp lỗi vi phạm thô bạo.
  • Bất cập về văn bản hướng dẫn: Khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, các văn bản hướng dẫn cũ như Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT không còn hoàn toàn tương thích, trong khi liên ngành tư pháp Trung ương chưa kịp thời ban hành Nghị quyết hoặc Thông tư liên tịch mới thay thế.
  1. Nhóm giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:
  • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hình sự: Sửa đổi Điều 260 theo hướng bổ sung các trường hợp gây thiệt hại hỗn hợp giữa tính mạng, sức khỏe và tài sản vào các khung tăng nặng; bổ sung quy định xử lý hành vi gây thương tích cho 01 người dưới 61% nhưng có tình tiết định khung tăng nặng (như say xỉn, không bằng lái, bỏ chạy).
  • Kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn: Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các thuật ngữ như "có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả", xác định lỗi hỗn hợp và cách tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người trong vụ án giao thông.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa lập pháp: Khóa luận phân tích có hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi đi lại từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ) qua các giai đoạn kháng chiến đến 3 lần pháp điển hóa (Bộ luật Hình sự các năm 1985, 1999, 2015).
  • Làm sáng tỏ các điểm mới cốt lõi của Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015: Nhận diện chính xác 4 điểm cải cách lập pháp: mở rộng tên tội danh và chủ thể sang cả người đi bộ, người dẫn dắt gia súc; lượng hóa chi tiết tỷ lệ tổn thương cơ thể thay cho cụm từ định tính; loại bỏ việc xử lý thương tích từ 31% đến 60% của 01 người tại khoản 1; tăng mức chế tài phạt tiền và mở rộng cấu thành bổ sung tại khoản 4.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu tiền nhiệm: Tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu trước đó (như luận văn của Dương Bửu Chánh năm 2007, Bùi Danh Đại năm 2015, Nguyễn Văn Tuyên năm 2018) chủ yếu tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, hoặc chỉ dựa trên cơ sở Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khóa luận này là một trong những công trình chuyên biệt phân tích trực tiếp Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã qua sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Đưa ra kiến nghị hoàn thiện có tính thực tiễn: Đề xuất phương án lập pháp giải quyết khoảng trống pháp lý đối với các vụ tai nạn có hậu quả hỗn hợp và kiến nghị cấp thiết ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất cho các cơ quan tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế và hướng mở do phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế về địa bàn khảo sát thực tiễn: Khảo sát thực tiễn xét xử chuyên sâu chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013 – 2017, chủ yếu phản ánh việc áp dụng Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999; do Bộ luật Hình sự năm 2015 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 nên số liệu xét xử thực tế theo Điều 260 tại thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2019) chưa đủ độ lùi thời gian để đánh giá toàn diện trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát số liệu xét xử tội danh theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 tại các đô thị lớn có mật độ giao thông đặc thù (như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) qua giai đoạn thi hành từ năm 2018 trở đi; đi sâu nghiên cứu án lệ về định tội danh khi có sự tham gia của người đi bộ và lỗi hỗn hợp giữa các bên tham gia giao thông.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và nghiệp vụ đối với các đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự: Dùng làm tài liệu đối chiếu khi nghiên cứu chuyên đề về các tội xâm phạm an toàn giao thông và kỹ thuật lập pháp hình sự.
  • Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Tham khảo nội dung so sánh chi tiết giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và năm 2015, đặc biệt là các phân tích về phân định ranh giới giữa Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với các tội danh như Tội giết người (Điều 123), Tội vô ý làm chết người (Điều 128) và Tội vi phạm quy định về an toàn lao động (Điều 295).
  • Học viên nghiên cứu đề tài tương tự: Cung cấp danh mục nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành phong phú gồm 47 tài liệu, các bản án thực tiễn và kinh nghiệm lập pháp của Liên bang Nga, Trung Quốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Bộ luật Hình sự năm 2015 như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định, thực hiện với lỗi vô ý, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp: làm chết người; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của 01 người tỷ lệ từ 61% trở lên; gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ từ 61% trở lên; gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên; hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả làm chết từ 03 người trở lên, gây thương tích cho 03 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 201% trở lên, hoặc thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời.

2. Điểm mới căn bản về chủ thể phạm tội giữa Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 là gì?
Chủ thể tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ giới hạn ở "người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 mở rộng chủ thể thành "người tham gia giao thông đường bộ", bao gồm cả người điều khiển phương tiện, người sử dụng phương tiện thô sơ, người đi bộ và người dẫn dắt súc vật trên đường bộ.

3. Phương tiện giao thông gây tai nạn chết người trong công trường xây dựng hoặc trường học có bị truy cứu theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
Theo phân tích của tác giả, trường hợp phương tiện hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ công cộng (như di chuyển trong khuôn viên trường học, công trường đang thi công) mà gây tai nạn thì không xử lý theo Điều 260, mà người điều khiển sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứng khác như Tội vô ý làm chết người (Điều 128) hoặc Tội vi phạm quy định về an toàn lao động (Điều 295).

4. Điểm khác biệt cơ bản giữa quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam là gì?
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga tách hành vi thành hai điều luật độc lập: Điều 264 áp dụng riêng cho người lái xe cơ giới, xe điện và Điều 268 áp dụng cho hành khách, người đi bộ và những người tham gia giao thông khác; trong khi Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam quy định chung tất cả các nhóm chủ thể này vào cùng một tội danh.

5. Cấu thành tội phạm bổ sung tại khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đòi hỏi điều kiện áp dụng như thế nào?
Khoản 4 Điều 260 là cấu thành tội phạm hình thức/bổ sung, không bắt buộc hậu quả thực tế phải xảy ra, mà chỉ yêu cầu hành vi vi phạm có khả năng thực tế dẫn đến một trong các hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (làm chết từ 03 người trở lên; gây tổn thương cơ thể 03 người trở lên tổng tỷ lệ từ 201% trở lên; thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên) nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Trần Hoài Thương là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, bám sát các cải cách lập pháp của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tác giả đã phân tích hệ thống cấu thành pháp lý, truy nguyên lịch sử lập pháp và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế để làm rõ các điểm mới của điều luật. Dựa trên số liệu thực tiễn tại Cà Mau giai đoạn 2013 – 2017, công trình đã chỉ ra khoảng trống pháp lý đối với các trường hợp thiệt hại hỗn hợp và đề xuất những kiến nghị có giá trị cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.