Tổng quan nghiên cứu
Khai quật khảo cổ học tại trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã thu thập được khối lượng tư liệu khổng lồ với 119.238 hiện vật vật liệu kiến trúc qua 3 năm (2017–2019) trên diện tích gần 3.000 m². Trải qua biến thiên lịch sử và khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, hầu hết các công trình kiến trúc cung điện bằng gỗ của kinh thành Thăng Long xưa đều đã bị tiêu hủy hoàn toàn, chỉ còn lại dấu tích nền móng và các loại vật liệu xây dựng bền vững như đất nung, đá và gỗ nằm sâu trong lòng đất. Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách: phân loại, giám định và phục dựng diện mạo kiến trúc hoàng cung thời Lê (thế kỷ XV–XVIII) thông qua dấu tích vật liệu xây dựng còn sót lại.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu tập trung vào việc thống kê, phân loại khoa học toàn bộ 119.238 hiện vật vật liệu kiến trúc thu được tại khu vực Chính điện Kính Thiên; xác định các đặc trưng loại hình, hoa văn, kỹ thuật chế tác của từng thời kỳ; đồng thời so sánh đối chiếu với các di tích cung điện lăng tẩm cùng thời như Lam Kinh và Đoan Môn. Về phạm vi không gian, luận văn tập trung nghiên cứu khu vực phía Đông Bắc nền điện Kính Thiên trên diện tích 47.390 m² thuộc vùng lõi di sản thế giới rộng 13,865 ha. Về phạm vi thời gian, nghiên cứu giới hạn ở hai giai đoạn lịch sử then chốt là thời Lê Sơ (thế kỷ XV–XVI) và thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII–XVIII). Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu vật thể cho hơn 7.458 m² toàn bộ khu vực khai quật trục trung tâm, cung cấp bằng chứng khảo cổ học chuẩn xác để nâng độ tin cậy của hồ sơ khoa học phục vụ đề án phục dựng không gian Chính điện Kính Thiên đạt tỷ lệ chuẩn xác trên 90%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đồng bộ hai lý thuyết nền tảng trong khảo cổ học hiện đại: Lý thuyết hình thái học khảo cổ học (Archaeological Typology) và Lý thuyết địa tầng học (Archaeological Stratigraphy theo nguyên lý chuỗi diễn thế địa tầng của Edward Harris). Lý thuyết hình thái học cho phép phân chia hiện vật theo cấu trúc hình dáng, công năng và kỹ thuật sản xuất nhằm thiết lập chuỗi tiến hóa hình thức vật liệu kiến trúc. Lý thuyết địa tầng học giúp xác định niên đại tương đối của từng nhóm hiện vật dựa trên trật tự lắng đọng của các lớp văn hóa dày từ 3,0 m đến 6,1 m trong lòng đất.
Khung phân tích của nghiên cứu xây dựng dựa trên 4 khái niệm cốt lõi:
- Địa tầng văn hóa: Lớp đất chứa đựng dấu tích hoạt động cư trú và xây dựng của con người qua các triều đại lịch sử nối tiếp nhau.
- Hiện vật đất nung cung đình: Hệ thống gạch, ngói và cấu kiện trang trí kiến trúc bằng đất nung phục vụ độc quyền cho các công trình hoàng gia.
- Ngói trích thủy: Loại ngói âm hoặc ngói dương gắn diềm mái phía trước hiên, có mũi nhọn hoặc hình lá đề vừa có tác dụng hướng dòng chảy nước mưa vừa trang trí mỹ thuật.
- Minh văn khảo cổ: Hệ thống chữ Hán khắc, in dập trên gạch ngói cung cấp thông tin về phiên hiệu quân đội, đơn vị hành chính và niên đại chế tác.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm nguồn sơ cấp từ kết quả khai quật, chỉnh lý hiện trường tại 3 hố khai quật khu vực Đông Bắc điện Kính Thiên trong các năm 2017, 2018 và 2019; kết hợp nguồn thứ cấp từ 10 đợt thám sát khảo cổ từ năm 1998 tại các vị trí Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn và nguồn tài liệu nghiên cứu của các học giả tiền bối.
Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng số mẫu phân tích gồm 119.238 hiện vật. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với các nhóm hiện vật quý hiếm, nguyên vẹn bao gồm 35 viên gạch vồ nguyên dáng, 23 viên gạch vuông, 14 viên gạch hình thang và 5 tiêu bản gạch in chữ Hán. Đối với khối lượng mảnh vỡ lớn gồm 54.456 mảnh gạch và 46.956 mảnh ngói, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) theo từng lớp đào và từng hố khai quật được triển khai để đo vẽ, thống kê tỷ lệ phần trăm và phân tích đặc trưng xương gốm.
Phương pháp phân tích kết hợp giữa chỉnh lý khảo cổ học trong phòng (mô tả hình thái, đo đạc kích thước, chụp ảnh, xử lý ảnh đồ họa trên máy tính) với phương pháp phân tích liên ngành: Lịch sử Mỹ thuật, Văn bản học Hán Nôm và Lịch sử Kiến trúc cổ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm xử lý triệt để tính chất phức tạp của địa tầng bị xáo trộn do việc đào đắp hồ nước thời Lê Trung hưng và san nền thời Nguyễn, đảm bảo tính chuẩn xác khi khôi phục vị trí nguyên bản của từng cấu kiện trên bộ mái công trình.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích định lượng trên 119.238 hiện vật vật liệu xây dựng thế kỷ XV–XVIII thu được qua 3 năm khai quật đã đưa ra 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, cơ cấu hiện vật đất nung chiếm vị trí thống trị tuyệt đối với 54.456 mảnh gạch (chiếm 45,67%) và 46.956 mảnh ngói (chiếm 39,38%), trang trí kiến trúc đạt 16.459 mảnh (chiếm 13,80%), trong khi hiện vật gỗ chỉ có 70 tiêu bản và đá có 297 mảnh. Riêng nhóm gạch thời Lê Sơ đã phát hiện 35.309 mảnh, trong đó gạch bìa chữ nhật chiếm 2.222 mảnh, gạch thẻ đạt 1.730 mảnh và gạch hộp thông gió đạt 2.249 mảnh.
Thứ hai, sự xuất hiện với mật độ cao của dòng ngói cao cấp phủ men màu hoàng gia. Trong tổng số 46.956 mảnh ngói, ngói phủ men chiếm tới 25.592 mảnh (ngói men xanh đạt 18.116 mảnh, tương đương 38,58%; ngói men vàng đạt 7.476 mảnh ngói ống và 5.060 mảnh ngói âm, tương đương 26,70%), vượt trội so với 24.547 mảnh ngói xám không men (52,28% tổng lượng ngói). Đi kèm với hệ mái tráng men là 14.982 mảnh tượng rồng gắn trên ngói ống (gồm 177 đầu rồng men xanh, men vàng và 14.805 mảnh vây rồng) thể hiện hình tượng rồng 5 móng thời Lê Sơ.
Thứ ba, phát hiện hệ thống minh văn chữ Hán độc bản in dập trên 5 tiêu bản gạch vồ và gạch hộp. Các dòng chữ Hán ghi rõ phiên hiệu quân đội thời Lê Sơ như "Hữu" (Hữu sở thuộc vệ Hiệu Lực), "Tam Phụ quân" (vệ Quảng Vũ thuộc Đông Quân phủ), "Hổ Uy quân" (vệ Phủng Thần thuộc Trung Quân phủ) và các địa danh hành chính như "Thu Vật huyện Vũ Linh hương", "Thu Vật huyện Nhân Khảm hương" thuộc tỉnh Tuyên Quang thời Lê.
Thứ tư, làm xuất lộ hệ thống mặt bằng kiến trúc quy mô lớn gồm 16 móng cột thời Lê Sơ được gia cố bằng đất sét và gạch ngói vụn bố trí thành 4 dãy cột cách đều nhau 4,2 m; hệ thống 7 móng cột lớn thời Lê Trung hưng (kích thước 2 m x 2 m), 5 bồn hoa vuông (98 cm x 98 cm x 20 cm) và một góc hồ nước quy mô dài 60 m, rộng 7 m, sâu 2,9 m.
Thảo luận kết quả
Sự vượt trội về số lượng và chất lượng của gạch ngói men vàng và men xanh phản ánh đỉnh cao của kỹ nghệ chế tác vật liệu xây dựng nhà nước dưới thời Lê Sơ. Tỷ lệ ngói men vàng (hoàng lưu ly) và men xanh (thanh lưu ly) chiếm hơn 54% tổng số ngói lợp khẳng định khu vực khai quật chính là không gian trung tâm Cấm thành, nơi tập trung các kiến trúc tối cao của triều đình.
So sánh với các nghiên cứu trước đây của Louis Bezacier (1951) tại Lam Kinh và công trình nghiên cứu 10.000 hiện vật của H. Mecier (1954), kết quả khai quật 2017–2019 đã đặt hiện vật vào đúng tầng văn hóa nguyên sinh dày từ 3,0 m đến 6,1 m, khắc phục hạn chế thu thập trôi nổi của các học giả người Pháp đầu thế kỷ XX. So với khu di chỉ 18 Hoàng Diệu (rộng 33.000 m²) và khu vực cổng Đoan Môn, mật độ gạch hộp thông gió trang trí rồng (2.174 mảnh tráng men) và đầu ngói trích thủy rồng tại điện Kính Thiên có độ đồng nhất và độ tinh xảo cao hơn hẳn.
Dữ liệu khảo cổ có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu vật liệu kiến trúc thể hiện tương quan 45,67% gạch, 39,38% ngói, 13,80% trang trí kiến trúc; kết hợp bảng ma trận kích thước chuẩn của gạch bìa thời Lê (38 cm x 20 cm x 6 cm), gạch vồ (40 cm x 21,5 cm x 9 cm) đối sánh với gạch thời Trần và thời Nguyễn.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát huy giá trị nguồn tư liệu vật liệu kiến trúc thế kỷ XV–XVIII tại khu vực điện Kính Thiên, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
-
Số hóa 3D và xây dựng ngân hàng dữ liệu hiện vật: Tiến hành quét laser 3D độ phân giải cao cho 100% các tiêu bản hiện vật nguyên dáng và cấu kiện điển hình (đặc biệt là 14.982 mảnh tượng rồng, vây rồng và 2.249 mảnh gạch hộp thông gió) trước quý IV năm 2026. Chủ thể thực hiện là Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội phối hợp với các đơn vị công nghệ thông tin di sản.
-
Mô phỏng phục dựng bộ mái Chính điện Kính Thiên: Ứng dụng công nghệ thực tế ảo và thiết kế kiến trúc phục dựng chính xác hệ thống mái ngói hoàng lưu ly, thanh lưu ly và bờ nóc gắn tượng rồng thời Lê Sơ, hướng tới nâng tỷ lệ chuẩn xác lịch sử lên trên 95% trong giai đoạn 2026–2028. Chủ thể chịu trách nhiệm là Viện Khảo cổ học và Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia.
-
Sản xuất thực nghiệm vật liệu kiến trúc cổ: Tổ chức các lò nung thực nghiệm tại các làng nghề gốm truyền thống nhằm tái tạo ít nhất 5 dòng vật liệu cốt lõi (ngói trích thủy men xanh, gạch vồ xám, gạch hộp rỗng thông gió) theo đúng công thức thành phần sét và nhiệt độ nung cổ truyền vào năm 2027. Đơn vị thực hiện là Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng liên kết cùng các nghệ nhân gốm Bát Tràng.
-
Mở rộng diện tích khai quật khảo cổ học trục trung tâm: Đẩy mạnh cấp phép khai quật mở rộng thêm từ 2.000 m² đến 3.000 m² về phía Tây và phía Nam nền điện Kính Thiên trước năm 2030 nhằm làm rõ toàn bộ ranh giới nền móng kiến trúc thời Lê. Cơ quan chủ trì là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Nhà nghiên cứu Khảo cổ học và Lịch sử: Khai thác khung phân loại chuẩn mực của 119.238 hiện vật và phương pháp bóc tách tầng văn hóa dày từ 3,0 m đến 6,1 m để làm tài liệu so sánh khi nghiên cứu các di tích cung đình thế kỷ XV–XVIII trên toàn quốc.
-
Kiến trúc sư và Chuyên gia Trùng tu Di tích: Sử dụng các thông số kỹ thuật chuẩn xác về kích thước gạch vồ (40 cm x 21,5 cm x 9 cm), gạch bìa (38 cm x 20 cm x 6 cm) và quy cách lợp ngói âm dương tráng men phục vụ lập hồ sơ thiết kế thi công phục dựng công trình kiến trúc cổ.
-
Cơ quan Quản lý Di sản Văn hóa: Vận dụng kết quả nghiên cứu vào công tác thuyết minh giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long rộng 13,865 ha và xây dựng không gian trưng bày bảo tàng chuyên đề khảo cổ học.
-
Giảng viên, Học viên Cao học và Sinh viên ngành Mỹ thuật Cổ: Tiếp cận nguồn tư liệu hoa văn rồng 5 móng, hoa sen, hoa cúc và hệ thống minh văn chữ Hán để nghiên cứu sự chuyển biến phong cách mỹ thuật và nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ và Lê Trung hưng.
Câu hỏi thường gặp
Vật liệu kiến trúc thời Lê Sơ tại điện Kính Thiên có gì khác biệt so với thời Lý – Trần?
Thời Lê Sơ đánh dấu bước đột phá khi sử dụng phổ biến ngói phủ men xanh (18.116 mảnh) và men vàng (12.536 mảnh) cùng biểu tượng rồng 5 móng uy quyền gắn trên nóc mái. Ngược lại, thời Lý – Trần chủ yếu sử dụng ngói đất nung đỏ gắn lá đề chim phượng hoặc ngói cong lòng máng trang trí rồng thân trơn uốn khúc mềm mại.
Minh văn chữ Hán in trên gạch thời Lê mang lại giá trị lịch sử gì?
Các minh văn như "Hổ Uy quân", "Tam Phụ quân" và địa danh "Thu Vật huyện Vũ Linh hương" là bằng chứng hiện vật khẳng định triều đình thời Lê đã điều động các đơn vị quân đội chính quy và huy động nhân lực, vật lực từ các địa phương miền núi phía Bắc về trực tiếp sản xuất gạch nung xây dựng kinh thành Thăng Long.
Tỷ lệ hiện vật còn nguyên vẹn trong tổng số 119.238 hiện vật khai quật là bao nhiêu?
Tỷ lệ hiện vật còn nguyên vẹn chiếm dưới 1% tổng số di vật phát hiện, tiêu biểu gồm 35 viên gạch vồ, 23 viên gạch vuông và 14 viên gạch hình thang. Hơn 99% còn lại là các mảnh vỡ do chịu tác động tàn phá của các cuộc chiến tranh và quá trình đào đắp, san lấp nền móng liên tục qua các thời kỳ lịch sử.
Chức năng của gạch hộp rỗng tráng men phát hiện tại điện Kính Thiên là gì?
Bộ sưu tập 2.174 mảnh gạch hộp rỗng men xanh và men vàng trang trí rồng 5 móng và hoa sen là loại gạch thông phong được dùng để ốp trang trí trên dải bờ nóc và bờ dải của bộ mái cung điện, vừa tạo điểm nhấn kiến trúc lộng lẫy vừa có tác dụng giảm tải trọng cho bộ khung gỗ chịu lực.
Kết quả nghiên cứu đóng góp gì cho dự án phục dựng Chính điện Kính Thiên?
Luận văn cung cấp hệ thống thông số kích thước chuẩn xác của từng loại gạch lát nền, gạch xây tường, độ uốn cong của ngói ống và kết cấu 16 móng cột cách đều nhau 4,2 m, tạo lập cơ sở dữ liệu khoa học đầy đủ nhất giúp các kiến trúc sư hoàn thiện bản vẽ phục nguyên kiến trúc đạt độ chính xác lịch sử tối đa.
Kết luận
- Đã xử lý, phân loại và hệ thống hóa khoa học khối lượng tư liệu khổng lồ gồm 119.238 hiện vật vật liệu xây dựng thế kỷ XV–XVIII thu thập từ diện tích gần 3.000 m² tại Chính điện Kính Thiên.
- Xác định rõ cơ cấu các loại hình vật liệu đất nung gồm 54.456 mảnh gạch, 46.956 mảnh ngói và 16.459 mảnh cấu kiện trang trí kiến trúc cung đình.
- Chứng minh sự phân cấp đẳng cấp kiến trúc hoàng cung thông qua tỷ lệ áp đảo của dòng ngói tráng men xanh, men vàng và hệ thống 14.982 mảnh tượng rồng gắn trên bờ mái thời Lê Sơ.
- Làm rõ mạng lưới tổ chức sản xuất vật liệu xây dựng kinh đô thông qua việc giải mã các minh văn quân hiệu "Tam Phụ quân", "Hổ Uy quân" và địa danh hành chính "Thu Vật huyện".
- Cung cấp bằng chứng vật thể xác thực khẳng định vị trí trung tâm Cấm thành Thăng Long không thay đổi qua các triều đại lịch sử.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã xác lập bộ quy chuẩn hình thái học và kỹ thuật của hệ thống vật liệu kiến trúc thời Lê tại điện Kính Thiên. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2025–2030 là đẩy mạnh số hóa 3D toàn bộ hiện vật và liên kết nghiên cứu liên ngành phục vụ đề án phục dựng hoàn chỉnh Chính điện Kính Thiên. Các cơ quan quản lý và giới chuyên môn cần tiếp tục khai thác sâu nguồn tư liệu này nhằm bảo tồn bền vững Di sản Thế giới Hoàng thành Thăng Long.