Chương 1 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu 1. tình hình phát hiện chung về gốm men trắng văn in ở việt nam Năm 1989, trong đợt khai quật di tích xóm Cậy (Long Xuyên, Cẩm Bình, Hải Dương), Viện Khảo cổ học đã phát hiện được ba tiêu bản bát gốm mỏng 0,2 cm, lòng bát in nổi hình hoa văn sóng nước và hai đường chỉ nổi.128 giữa lòng in nổi chữ Quan官 [14]. Năm 2002, tại khu vực Xóm Bến ở Chu Đậu, Viện Khảo cổ học cũng phát hiện những sản phẩm góm men in văn sóng nước, giữa lòng in nổi chữ Quan官. Chất lượng và phong cách trang trí giống với gốm văn in được phát hiện ở di chỉ gốm Ngói năm 1999.
Theo quan điểm của Bùi Minh Trí thì đây là sản phẩm của lò quan [43]. Cũng năm 2002, trong tầng văn hoá I có niên đại thế kỷ XV của hố thám sát ở di tích Hợp Lễ (Long Xuyên, Cẩm Bình, Hải Dương), Viện Khảo cổ học cũng tìm thấy loại hình gốm này. Đặc biệt, ở đây còn tìm thấy một mảnh khuôn in bằng đất sét trắng [14]. Trong khoảng thời gian này, những cuộc khai quật trong lòng thủ đô Hà Nội đã làm xuất lộ một số lượng lớn loại hình gốm này trong những di tích của Hoàng Thành Thăng Long.
Năm 1998, khai quật di chỉ khảo cổ học Hậu Lâu đã phát hiện một sưu tập gốm men trắng văn in gần 600 mảnh gốm ở độ sâu 2,80 - 3,40m. Tuy nhiên, đặc điểm tầng văn hoá tại di tích này thường xuyên bị chia cắt và xáo trộn. Các nhà khảo cổ học tham gia khai quật đã xếp niên đại cho loại hình gốm này vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV [38]. Tuy nhiên, sau đó, niên đại của loại hình gốm này được xác định lại là vào thời Lê sơ (thế kỷ XV) [41].
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1999, trong cuộc khai quật khảo cổ học ở di tích Bắc Môn (cổng phía Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn), Viện Khảo cổ học cũng phát hiện thấy một số lượng ít gốm men trắng văn in có niên đại thế kỷ XV - XVI nằm trong tầng văn hoá từ thế kỷ XV cho đến thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, địa tầng ở đây cũng bị cắt phá chồng chéo [40]. Năm 2000, một sưu tập gốm men trắng văn in gồm 26 tiêu bản được tìm thấy trên con tàu cổ Cù Lao Chàm có niên đại thế kỷ XV. Các nhà khảo cổ học cho rằng sưu tập gốm này có nguồn gốc từ trung tâm gốm sứ Chu Đậu (Hải Dương) [5], [14], [34].
Những phát hiện về loại hình gốm men trắng văn in đặc biệt nở rộ trong quá trình khai quật di tích Hoàng Thành Thăng Long tại 18 - Hoàng Diệu. Một sưu tập lớn gốm men trắng văn in được xếp vào niên đại Lê sơ với các loại hình chủ yếu là bát, đĩa cỡ nhỏ có xương gốm mỏng như vỏ trứng mà khi cầm soi lên ánh sáng có thể nhìn thấy hoa văn trang trí bên trong. Các nhà khảo cổ học cho rằng loại hình gốm này “chỉ được dùng trong Hoàng cung và những nơi có liên quan đến sinh hoạt của Vua và Hoàng gia” [46]. Cùng thời gian này, từ năm 1996 đến năm 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng đã phát hiện một sưu tập gốm men trắng văn in với số lượng lớn tại khu trung tâm di tích Lam Kinh - thánh địa của nhà Lê.
Phát hiện này mở rộng tầm nhận thức về loại hình, vai trò của gốm men trắng văn in trong thời gian tồn tại cũng như vị trí của nó trong dòng chảy gốm Việt Nam. Đặc biệt, loại hình gốm này được phát hiện trong địa tầng kiến trúc ổn định và rõ ràng - điều này không có ở di tích Hoàng Thành Thăng Long - khiến cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về loại hình gốm này ở đây hứa hẹn không ít những điều thú vị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quá trình phát hiện gốm men trắng văn in ở di tích lam kinh 1.
Giới thiệu về di tích Lam Kinh Khu trung tâm Lam Kinh hiện nay nằm ở toạ độ 19055’565” vĩ Bắc, 105024’403” kinh Đông. Theo bản đồ qui hoạch (năm 2002), khu di tích Lam Kinh thuộc địa phận xã Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) tỉnh Thanh Hoá. Từ thành phố Thanh Hoá đi về phía tây bắc khoảng 60 km ta sẽ gặp di tích Lam Kinh nằm bên tả ngạn sông Chu, cách đập Bái Thượng 5 km về phía nam [Bản đồ 1]. Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, quê hương của anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và là cội nguồn khởi dựng nhà Lê.
Chính vì vậy Lam Sơn - Lam Kinh là vùng đất được sự quan tâm đặc biệt của các vua triều Lê. Năm 1430, sau khi giành lại nền độc lập, đất nước có những phát triển mới, Lê Thái Tổ đã cho đổi vùng đất Lam Sơn là Lam Kinh hay Tây Kinh (để phân biệt với Đông Kinh - Hà Nội) [25, tr. Đây là mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của khu trung tâm Lam Kinh sau đó. Từ đây, Lam Kinh trở thành một vùng đất "căn bản" của nước Đại Việt thời Lê [9]; [27].
Năm 1433, sau khi vua Lê Thái Tổ mất đưa về an táng ở Lam Kinh, các điện miếu cũng bắt đầu được xây dựng [25, tr. Lam Kinh đã trở thành nơi an táng các vua và Hoàng Hậu thời Lê sơ. Qua ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư được biết hàng năm các vua thời Lê sơ đều về Lam Kinh bái yết Sơn lăng [25]. Đại Việt sử ký toàn thư nói rõ Lam Kinh được xây dựng vào năm 1433, năm sau 1434 vua sai Hữu bộc xạ Lê Như Lãng đến Lam Kinh dựng miếu Cung Từ Thái Mẫu.
Vào các năm 1448 và 1450, Lam Kinh lại tiếp tục được xây dựng và trùng tu. Năm 1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu cho Thái uý Lê Khả và cục Bách Tác làm lại điện miếu ở Lam Kinh. Chưa đầy một năm, công việc xây dựng hoàn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành và được triều đình bảo vệ. Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toà nhà của Chính Điện là Quang Đức, Sùng Hiếu và Diễn (Diên) Khánh [25].
Ghi chép về khu điện Lam Kinh của Phan Huy Chú cho biết Lam Kinh khá to lớn, nằm trên địa thế đẹp "Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thái Tông và lăng các vua nhà Lê đều ở đây cả. Lăng nào cũng có bia. Sau điện, lấy Tây hồ làm não, giống như hồ Kim Ngưu.
Hồ rất rộng lớn, nước các ngả đều chảy cả vào đó. Có con sông phát nguyên từ hồ ấy, chạy vòng trước mặt, lòng sông có những viên đá nhỏ, tròn và nhẵn trông rất thích mắt nhưng không ai dám lấy trộm. Lại có lạch nước nhỏ, chảy từ bên tay phải qua trước điện, ôm vòng lại như cánh cung. Trên lạch có cầu giống như Bạch Kiều ở giảng đình điện Vạn Thọ Đông Kinh, đi qua cầu mới tới điện.
Nền điện rất cao, hai bên mở rộng, dưới chân điện có làn nước phẳng, giống như trước điện nhà vua coi chầu. Ngoài cửa Nghi Môn có hai con chó ngao bằng đá, tục truyền là rất thiêng. Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ Công, mẫu mực theo đúng kiểu các miếu ở kinh sư. Theo từng bậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thì thấy núi khe hai bên Tả, Hữu, cái nọ, cái kia vòng quanh thật là một chỗ để xây dựng cơ nghiệp" [9, tr.
Những ghi chép trên cho thấy rõ tầm quan trọng của khu di tích Lam Kinh với vai trò là một kinh đô thứ hai, là quê cha đất tổ, là thánh địa thiêng liêng của nhà Lê. Quá trình phát hiện gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh. Từ trước năm 1954, chưa có một nghiên cứu tổng thế nào về di tích Lam Kinh ngoài những khảo sát của những học giả người Pháp. Những nghiên cứu của các học giả: Cadière vào năm 1905 [55], Parmentier và Goloubew vào năm 1923 [54], Gaspardone vào năm 1931 - 1935 [56] và Bezacier năm 1942 [54] chủ yếu tập trung vào khảo sát hiện trạng kiến trúc và nghệ thuật của khu di tích.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ 1954 - 1995: Có 4 đợt khảo sát và khai quật khảo cổ học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Viện Mỹ thuật và trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Tuy vậy, các cuộc khảo sát và khai quật từ những năm chỉ tập trung chú ý đến kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc ở khu di tích này mà không bàn tới bất cứ một loại hình di vật nào khác. Năm 1995, trước tình trạng xuống cấp của di tích, nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa lịch sử, văn hoá của Lam Kinh, Chính phủ đã phê duyệt dự án Quy hoạch tổng thể, trùng tu tôn tạo và phục hồi khu di tích Lam Kinh, trong đó khu di tích trung tâm được đặt hàng đầu [50]. Từ năm 1996 đến năm 2004: Để phục vụ cho việc trùng tu tôn tạo di tích Lam Kinh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Ban Quản lý Di tích Lịch sử Lam Kinh (Thanh Hoá) tiến hành 7 đợt nghiên cứu khảo cổ học tại trung tâm di tích Lam Kinh trên quy mô lớn.
Trong quá trình thám sát, khai quật này, lần đầu tiên gốm men trắng văn in xuất hiện với tư cách là một loại hình di vật độc đáo của di tích. Năm 1996, lần đầu tiên phát hiện ra loại gốm men trắng văn in tại di tích này, chủ yếu ở di tích Giếng Ngọc với số lượng rất ít ỏi: 1 tiêu bản nguyên dạng và 15 mảnh. Trang trí chủ yếu là vân mây, sóng nước và chữ Quan 官 trong lòng [Bảng 4, năm 1996]. Năm 1997, phát hiện được số lượng tương đối chủ yếu ở di tích Tả Vu, độ mỏng của xương gốm khoảng 0,3 cm gồm 18 tiêu bản phục nguyên dạng và 593 mảnh, mô-típ trang trí chủ yếu là mây nước, hoa lá và chữ Quan 官 trong lòng bát [Bảng 4, năm 1997].
Năm 1999 - 2000 khi bắt đầu tiến hành ở các khu vực chính của di tích gồm Chính Điện và Thái Miếu, đoàn nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.